NHỮNG CHUYỆN BÊN NGOÀI ĐẠI HỘI MÀ CÁC NHÀ VĂN KHÔNG BIẾT
THIÊN SƠN
![]()
Thiên Sơn thăm nhà văn Sơn Tùng
Buổi tối hôm đại hội nhà văn Việt Nam, tôi gặp lại một người bạn cũ sau gần 10 năm xa cách. Anh là Chu Xuân Giao, tiến sỹ nhân loại học từ Nhật Bản về, trước đây đã từng là một cây Hán Nôm và văn học dân gian vào loại đứng đầu đất nước từ lúc còn sinh viên đại học Tổng hợp. Chúng tôi ngồi café 34 Phạm Huy Thông nhìn xuống hồ Ngọc Khánh nói vài câu chuyện văn chương.
Anh Giao hỏi tôi:
- Cuốn tiểu thuyết “Dòng sông chết” của cậu được bao nhiêu tiền nhuận bút? Tôi muốn biết, ông anh trai vợ tôi ở Đức đã đọc cuốn này cũng muốn hỏi cho biết. Bạn nói đi, rồi tôi sẽ tâm sự với bạn những điều rộng hơn.
- Được năm triệu chứ mấy. Ấy là sách vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết Hội nhà văn lần thứ 3, được trả nhuận bút loại cao nhất đấy. Và tôi dùng toàn bộ tiền nhuận bút mua sách để tặng bạn bè.
- Cậu viết trong bao lâu?
- Hơn một năm, khổ sở thêm một năm nữa để có thể in.
Chu Xuân Giao thở dài.
- Ông anh tôi nói mê cuốn sách này của cậu. Cuốn này ở Đức nếu xuất bản cậu có thể mua nhà đấy, còn sống được mấy năm. Nhưng thôi, hôm nay đại hội nhà văn, tôi thấy buồn quá.
- Buồn cái gì?
- Tôi thấy cả một hội trường đầu bạc. Nhà văn toàn sáu bảy chục tuổi cả. Còn một điều nữa, trong 5 năm, một nhiệm kỳ đại hội mà Đảng và nhà nước tài trợ cho Hội nhà văn Việt Nam 15 tỷ, ít quá. Ít một cách khủng khiếp. Vậy mà có người nói tài trợ như thế là nhiều. Tôi không hiểu đầu óc của họ ra sao? Cạnh nhà tôi, có người bán căn nhà 20 tỷ. Đầu tư của một đất nước 90 triệu dân cho nền văn học mỗi năm có 3 tỷ mà coi là nhiều, trong khi nhuận bút, mức sống của nhà văn như hiện này, đó là điều phi lý nhất, rẻ rúng nhất mà loài người không thể tưởng tượng ra được.
- Về hai điều trên thì một điều tôi đã nói với nhà thơ Nguyễn Hoa năm ngoái khi ông là phó ban công tác Hội viên, và một điều hôm nay tôi sẽ nói với anh.
- Cậu nói với ông Hoa thế nào?
- Hôm đó, theo lời của nhà thơ Hữu Thỉnh tôi đến để bổ sung cái lý lịch văn học xin vào Hội nhà văn. Tôi chưa bao giờ kiêu ngạo, nhưng trước anh tôi xin kiêu ngạo chút, tôi là người có học hành bài bản về văn học. Anh biết tôi từ lúc ở trường. Nay tôi đã viết 10 cuốn sách. Hơn 10 năm trước tiểu thuyết “Màu Xanh ký ức” của tôi đã vào đến chung khảo cuộc thi tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam lần thứ nhất, và cuốn “Dòng sông chết” lần này cũng vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3. Tập truyện “Người bên lề” hơn 500 trang đã in 4 lần, được đánh giá cao trên các diễn đàn, tiểu thuyết “Quyền lực đen” dự kiến 1000 trang, 2 tập đã sắp xong. Nhưng lý lịch của tôi gửi, Hội nhà văn không thèm sờ đến (Có lẽ họ không biết. Chắc họ không có thời gian đọc). Chuyện ấy cũng chẳng sao. Tôi thuộc loại tự tin, tôi là người viết chân chính và có trách nhiệm, tôi muốn Hội nhà văn sẽ kết nạp tôi như một vinh dự cho Hội chứ không phải là một nỗi hổ thẹn. Nếu không kết nạp, tôi vẫn là tôi. Tôi có thể trở thành một cây bút độc lập, hoặc cần thiết, tôi sẽ lập ra nhóm văn bút của mình. Ngày Lãng Thanh chưa chết cậu ấy và tôi đã định làm nên những chuyện lớn hơn cho văn học.
Nhưng cái hôm đó, tôi đã vui chuyện nói với nhà thơ Nguyễn Hoa thế này: Hội nhà văn phải mạnh dạn, loại bỏ hết những người không biết viết, không viết được nữa, quá 60 tuổi ra khỏi danh sách kết nạp. Bỏ đi cho gọn. Những người 60 tuổi không làm nên trò trống gì, thì thôi. Vào Hội làm gì? Những người năm mươi, nếu thấy non, cũng nên rút. Cần phải biết rút chứ. Chọn lấy danh sách khoảng một trăm, hoặc hơn chút, những người viết trẻ, tạo điều kiện giao lưu, theo dõi và kết nạp. Cần có những diễn đàn mạnh mẽ và rộng lớn cho người trẻ chân chính, có tâm huyết. Thế thì may ra, năm, mười năm nữa, Hội nhà văn mới có những người trẻ làm tăng sinh khí. Không tạo được đột biến, Hội sẽ trở thành hội người cao tuổi. Khi đó, nền văn học sẽ tiếp tục tụt hậu và không mong gì ngày khởi sắc, nếu không muốn nói sự lạc hậu sẽ làm phân rã Hội.
Tôi nhìn Chu Xuân Giao:
- Tôi có luận cứ để nói đến sự nguy hiểm đe dọa đến sứ mệnh của Hội nhà văn và nền văn học hiện nay. Đội ngũ cầm bút gồm những người già, chỉ quen viết theo thói cũ đã hình thành nửa thế kỷ trước. Sức học và sức hiểu những vấn đề mới của những người này đã giảm. Không thể lý giải được hiện thực đang biến thiên, đang bị che đậy, ngụy tạo như hôm nay. Dù có tâm, những người viết cao tuổi cũng không thể đủ sức mở ra con đường thâm nhập vào xã hội đầy man trá như thế này, nhiều kiến thức mới làm họ đuối sức. Đội ngũ trẻ chia làm 2 loại, loại viết những chuyện rẻ tiền, trơ trẽn, nhân danh đổi mới để biến nền văn học thành một đống rác rưởi. Loại thứ 2 thầm lặng, kiên trì làm việc, hoặc dù có tâm nhưng chán nản dần, bỏ cuộc. Đời tôi đã chứng kiến bao người tài năng mà bỏ cuộc. Khi tôi vào đại học tổng hợp 20 năm trước, Khoa văn còn là nơi tập hợp của những sinh viên ưu tú. Nay thì những người ấy đã bị cơm áo gạo tiền nuốt mất họ rồi. Đấy, đội ngũ của chúng ta như thế. Đói nghèo. Thiếu hết những điều kiện để có thể áp dụng lối làm việc hiện đại. Lại phải phân tâm vào biết bao công việc vụn vặt. Ngoài ra còn phải đối mặt với 2 mỗi đe dọa khác: một là sự kiểm duyệt và hai là cạnh tranh từ bên ngoài. Sự dân chủ, tự do vốn là một đòi hỏi tối thiểu với người sáng tác, đến nay chúng ta vẫn chưa có. Nỗi sợ hãi các nhà cầm quyền, bộ máy an ninh vẫn là điều thường trực của các cơ quan xuất bản. Trong khi các công ty tư nhân thì phần lớn chỉ nhăm nhe dịch các tác phẩm nước ngoài về, đánh bóng tên tuổi, câu khách và bán những cuốn sách xa lạ với thực tế đất nước. Gần như cái gì dịch ở nước ngoài về họ cũng cho là hay. Điều đó làm tôi thấy sợ hãi cái bản tính nô lệ vẫn còn in sâu trong tâm trí không ít người…
Anh Chu Xuân Giao lặng im nghe tôi nói. Là một nhà khoa học, có lẽ anh không muốn quan tâm đến những thứ quá nhức đầu như thế. Nhưng tôi đã nói thì phải nói đến nơi đến chốn. Chủ đề tiếp theo là chuyện tiền.
- Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sở hữu 1,53 triệu tỷ đồng và hầu hết nguồn lực quốc gia, nhưng làm ăn lãi suất còn thấp hơn so với ngân hàng (khoảng 10,5% năm, chưa tính thuế). Có chuyên gia nói, chỉ cần mang khoản tiền này gửi vào ngân hàng, còn có thể mang lại nguồn lợi ích lớn hơn nhiều. Riêng thằng Vinashin sở hữu 90 ngàn tỷ, vay thêm 86 ngàn tỷ, theo nguồn tin BBC nói, thua lỗ của tập đoàn này là 80 ngàn tỷ. Tôi thử tính sơ, số tiền thua lỗ này có thể đủ tài trợ cho Hội nhà văn hoạt động trong 26.666 năm. Nghĩa là gấp khoảng 6,6 lần khoảng thời từ khi Mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng hình thành nên dân tộc ta. Đó là một câu chuyện kinh rợn nhất mà nền kinh tế Việt Nam gặp phải từ xưa đến nay, và cũng để thấy, đầu tư cho văn chương ở xứ này ít ỏi đến mức nào.
Chu Xuân Giao bảo:
- Không nói nữa. Chuyện này có viết báo người ta cũng chẳng tin. Đưa lên Hội nhà văn họ đọc họ cũng ngạc nhiên…
Tôi tiếp lời:
- Tôi không muốn nói, lâu rồi tôi có nói đâu. Những bậc thầy của tôi luôn dặn rằng, tránh hết những cuộc tranh biện đi. Mất thời gian. Lo mà làm việc của mình. Hãy tập trung vào những gì quan trọng nhất. Cuộc đời ngắn ngủi, có nhiều việc phải làm.
- Cậu dành thời gian để viết. Nhà văn là phải có tác phẩm. Phải biểu hiện được những gì điển hình và sâu sắc nhất của thời đại. Làm nhà văn mà chỉ nói tầm phào, thì buông bút có hay hơn không.
- Cảm ơn anh Giao! Anh là người tôi luôn quý trọng và ngưỡng mộ. Anh là sự uyên bác mà tôi không thể có.
- Nhưng cậu là một ngọn núi. Tôi luôn thấy thế…
Hà Nội 6-8-2010
Nguồn: nguyentrongtao.org
|
NGƯỜI ĐÀN BÀ “DẠI YÊU”TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN
Lê Hồ Quang
1. Có hẳn một tập thơ của Đoàn Thị Lam Luyến có tên là ... Dại yêu. Có cả một tập hợp chân dung những người đàn bà “dại yêu” trong thơ chị: xưa là Mỵ Châu, Xúy Vân, Thị Mầu, Thúy Kiều, Hồ Xuân Hương...; nay là người đàn bà “lỡ chồng” với đứa con mang họ mẹ, một người bạn thơ “càng say càng gặp tình vờ”, một người em gái với đời riêng lấy “cái thất tình làm vui”... Và thơ chị nhắc đến rất nhiều những cả tin, dại khờ, nông nổi... của chủ thể trữ tình, một người đàn bà vốn “đa tình liền với đa đoan/ Tơ duyên đã nối lại càng nối thêm”... Thế nên, không hề quá lời khi ta nói rằng người đàn bà dại yêu là một hình tượng rất nổi bật trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến. Đấy là một cách khái quát mộc mạc, dân giã, pha chút trào lộng nhưng xác đáng về những người phụ nữ có bản năng yêu đương sôi nổi, bất chấp mọi ràng buộc cũng như thói tục thông thường, và như một tất yếu, thường có số phận lỡ làng, bi đát... Vô tình hoặc cố ý, những nét “đặc tả” hình tượng này khiến những ai từng biết Đoàn Thị Lam Luyến không khỏi liên tưởng tới tiểu sử của chính tác giả. Nhưng tôi nghĩ, đấy không đơn thuần chỉ là kết quả của sự “giãy bày”, “bộc bạch” tâm tư nhà thơ, (dù cảm hứng này khá đậm nét trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến và chính nó cũng đã góp phần tạo nên vẻ nồng nhiệt lạ lùng của thơ chị). Có thể nói, hình tượng người đàn bà dại yêu ấy còn là một cách để nhà thơ tự ý thức về chính cuộc đời mình, và rộng ra, là về cuộc đời và số phận của người phụ nữ hiện đại. Đó là một câu chuyện mang sắc thái bi kịch nhưng điều đáng nói hơn, đáng để cho ta suy ngẫm hơn, không chỉ nằm ở cái tình huống bi kịch (cũng khá phổ biến trong đời sống và văn chương) mà chính là ở cái thái độ và cách ứng xử của con người trước bi kịch ấy.
2. Trong một cái nhìn có tính “tổng kết”, sự “dại yêu” của người đàn bà trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến được định danh qua một loạt tính từ: dại dột, cả tin, ngộ nhận, yếu mềm, say, dại, điên... Tác giả giãi bày rất thực thà về sự cả tin, khờ khạo của người – đàn – bà – dại – yêu này: Ngoài bốn chục chưa khỏi điều non nớt/ cả tin nghe, cả tin nói, cả tin cười (Châm khói); Chị cũng nhận thấy sự mơ mộng, đa cảm, thiếu thực tế ở người đàn bà này như một điểm yếu khó khắc phục: Quen sống với mộng mơ/ Tim tôi đầy vọng ước/ Chẳng yêu cây trên bờ/ Chỉ say tình dưới nước (Điểm hẹn)... Dĩ nhiên, có lúc chị cũng tự biện luận: Em không là thánh thần/ Mới nhiều phen nông nổi/ Khi đã dấn thân yêu/ Biết đâu mà lọc lõi (Em không là thánh thần); nhưng rốt cục, nhà thơ vẫn thấy sự “dại dột” ấy như là một bản tính ăn vào máu mình, khó lòng cải đổi: Bếp thoắt tro, thoắt lửa/ Biển thoắt đầy thoắt vơi/ Lại dễ dàng thổn thức/ Lại sẵn sàng khơi vơi (Tuổi bốn mươi)...
Khao khát tình yêu, đắm đuối trong những ảo tưởng tự tô vẽ, ở người đàn bà này, hình ảnh người tình luôn được “thiêng hóa”: Anh đến như trời sai đến/ Em không giữ nổi phép màu/ Như có bàn tay định mệnh/ Bàng hoàng ánh mắt giao nhau (Lời anh trên biển)... Nồng nhiệt và tự tin đến ngây thơ, bất chấp những cảnh ngộ thực tế, người đàn bà ấy sẵn sàng cao giọng “thách thức” với mọi thử thách khắc nghiệt nhất của đời sống: Gian khổ hay cách trở/ Thương nhau thêm bội phần/ Và với em khi đó/ Tình yêu là phép nhân (Phép nhân)... Và với tất cả sự đa cảm và vụng dại, chị sẵn sàng “thế chấp” tất cả niềm tin vào tình yêu, cho dù đó chỉ là tình cảm từ một phía và không hề được đáp đền: Dẫu chẳng được hẹn hò/ Em cứ đợi, cứ say/ Ngâu có xa nhau, Ngâu có ngày gặp lại/ Kim – Kiều lỡ duyên nhau/ Chẳng thể là mãi mãi/ Em vẫn đợi/ Vẫn chờ/ Dẫu chỉ là huyền thoại một tình yêu! (Huyền thoại)...
Có thể thấy đây cũng là điểm gần gũi giữa nhiều tâm hồn phụ nữ: sống nghiêng về cảm tính, khi yêu, họ thường hết mình, không chút tính toán, so đo và những ngộ nhận, nhầm lẫn xuất phát từ sự “trái tim nhầm chỗ để trên đầu” ấy là một điều rất dễ xảy ra. Ta có thể bắt gặp tiếng thơ đầy khát khao dâng hiến nhưng cũng đầy những ám ảnh buồn bã trong thơ của nhiều tác giả nữ như Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Mây... Với Đoàn Thị Lam Luyến, thơ cũng là một cách để chị “tự nghiệm” về cuộc đời với không ít xót xa. Có điều, trong cách “tự nghiệm” của người đàn bà “dại yêu” ấy vẫn phảng phất một nụ cười giễu cợt và điều này tạo nên một sắc thái rất riêng trong những câu thơ tình của chị: chính trong cách nói về sự “mù quáng” ấy lại thể hiện rất rõ sự tỉnh táo của con người.
3. Những ảo tưởng có thể đem lại ít nhiều thi vị, ngọt ngào trong cảm xúc, nhưng chính đó lại là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ tất yếu khi con người buộc phải đối diện với thực tế. Và khi đó, thay vào cái nhãn quan lãng mạn hóa ban đầu là một cái nhìn trực diện vào đời sống với một cảm hứng “phản tỉnh” ráo riết. Ta thấy điều này được đánh dấu bằng một loạt động từ: biết, nhận biết, nhận ra, thức tỉnh, ... ; một loạt tính từ: ngậm ngùi, đau khổ, buồn nản, tàn tạ, tan nát, mệt mỏi, cô đơn, dại dột, đơn lẻ, đắng cay, trái ngang, dang dở... Và rất nhiều những câu hỏi, những lời tự vấn hoang mang, mệt mỏi: Sao ta cứ lầm hương/ Với mùi thơm của lá/ Lửa tình ta cố nhen/ Khi tim người lạnh giá? (Trả ta về cô đơn); Em ở hiền/ Em có ác chi đâu/ Mà trời lại xui anh bắt đầu tình yêu với người con gái khác? Có phải rượu đâu mà chờ rượu nhạt/ Có phải miếng trầu/ Đợi trầu dập, mới cay?(Huyền thoại); Ta muốn ôm cả đất/ Ta muốn ôm cả trời/ Mà sao không yêu trọn/ Trái tim một con người!? (Gửi tình yêu)...
Trong một con mắt tỉnh táo, cái tình yêu được tô vẽ với bao “ảo sắc thiên đường” đã mất đi ánh hào quang giả dối của nó. Người đàn bà phải đối diện với sự thật đổ vỡ, dối lừa như “những nhát roi vào tim/ Cứ bầm bầm máu ứa”. Và cái tình yêu đầy ảo tưởng giờ đây chỉ còn lại những chua chát, bẽ bàng cùng cực: Càng say càng gặp tình vờ/ Non non nước nước lập lờ lứa đôi (Yêu để cho thơ); Đa tình liền với đa đoan/ Tơ duyên cứ nối lại càng nối thêm (Tích tịch tình tang)... Tỉnh mộng, người đàn bà nhận ra cái tình yêu mà mình đắm đuối “cá cược” cả cuộc đời mình vào đó, thực chất chỉ là một hành động mù quáng, không hơn: Em đương lấy sóng làm cầu/ Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền (Em gái)...
Dĩ nhiên, trong cái nhãn quan ấy, hình tượng người tình cũng sẽ mất đi vẻ hào nhoáng ban đầu. Giờ đây, người đàn ông hiện lên chân thực hơn, và cũng ...tầm thường hơn. Đấy là một kẻ ham vui, yếu mềm và dễ sa đà: Khi em chờ mỏi mắt rồi/ Anh còn ở mãi phương trời nào đây/ Nơi nào anh cũng dễ say/ Nơi nào cũng sẵn vòng tay đợi chờ (Nhớ Hồ Xuân Hương)...; Đấy cũng là một con người nhạt nhẽo, hèn đớn, ngược hẳn với cái say đắm đến quyết liệt của người đàn bà: Em đam mê đến độ hững hờ/ Anh chầm bập như là yêu thật vậy/ Nhưng em biết em chỉ là trang giấy/ Lúc mềm lòng anh rắp vẽ vu vơ (Khách mời)... Thậm chí, lừa dối và bạc bẽo: Dù hóa trang gương mặt mình khéo đến thế nào chăng nữa/ Anh vẫn là một Thúc Sinh Thôi/ Kỉ niệm Lâm Chuy, Kiều có phải báo ân đền nghĩa/ Anh cũng đã đem em đi bỏ chợ người (Kiều có ở trong em)...
Rõ ràng, trong cái nhìn này, hình tượng người đàn bà mạnh mẽ, chủ động bao nhiêu thì người đàn ông lại bạc nhược, yếu đuối, thiếu bản lĩnh bấy nhiêu. Song thực ra, sự mạnh mẽ này dường như không phải “chủ đích” của người đàn bà, chẳng qua khi rơi vào tình cảnh ấy, chị buộc lòng phải gồng mình lên để chịu đựng, để gánh vác. Cái chao chát đáo để chỉ là vỏ ngoài, nhằm để che đầy một tâm hồn yếu đuối, đa cảm và dễ thương tổn bên trong. Và điều đó, tôi nghĩ, xét đến cùng, lại là một nỗi đau khác.
4. Nhưng nguyên nhân của những bi kịch ấy là ở đâu? Dù cảm hứng phân tích, lí giải không phải là cảm hứng nổi bật trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến, nhưng rõ ràng chị rất có ý thức “truy tìm” lời giải đáp cho câu hỏi này. Bởi vì, trước hết, đó là câu hỏi của chính đời chị.
Và lí do trước hết, là vì mình, vì sự ảo tưởng, non nớt, cả tin... của mình, tóm lại là vì mình...dại. Nhưng trong một cái nhìn khái quát, nhà thơ còn thấy một nguyên nhân nữa, chi phối những khổ đau trong cuộc đời chị, ấy là... số phận. Trong thơ mình, Đoàn Thị Lam Luyến nhắc nhiều đến số phận, duyên phận, số trời, mệnh trời, phận trời... Ngẫm lại phần đời đã trải với bao cay đắng, tác giả đã phải thốt lên: Cái phận trước, cái duyên sau/ Nào ai tính được dài lâu với trời? (Chồng chị chồng em); Mẹ sinh em đêm hay ngày/ Mà sao như số trời đày thế gian? (Tích tịch tình tang)... Là số phận, cho nên không “có số được vàng”, là số phận cho nên “duyên thiên cách trở muộn màng nhau”, cho nên “tơ duyên đã nối lại càng nối thêm”... Số phận, trong triết lí dân gian, như một sợi dây trói buộc vô hình mà con người khó lòng vượt ra được. Nhưng với Đoàn Thị Lam Luyến, một người đàn bà hiện đại, số phận còn mang ý nghĩa như một thử thách để qua đó con người bộc lộ được bản lĩnh và nhân cách sống của mình. Dẫu không hề muốn, nhưng khi đứng trước nhữngéo le của cảnh ngộ, những éo le mang tên “số phận”, người đàn bà ấy không trốn tránh, hay chỉ biết than thân trách phận, mà còn biết can đảm đối diện và vượt lên bằng một thái độ ứng xử đầy mạnh mẽ và chủ động.
Ta có thể thấy những điều này rất rõ trong bài thơ Chồng chị, chồng em. Bài thơ được cấu tứ trên những tương quan đối lập: xưa/ nay; gần / xa; phận/ duyên; buồn/ vui; chồng chị/ chồng em.... Đấy cũng là cảnh ngộ tình duyên đầy éo le. Người đàn bà luôn khát khao tìm kiếm một tình yêu lí tưởng, “một tình yêu chỉ riêng dành cho tôi” nay lại phải đứng trước tình thế: “Xưa thì chị, nay thì em” và cái sợi dây “tơ hồng” của duyên phận ấy thực ra cũng chỉ là “nối thêm”. Cái sự thật đầy ngậm ngùi ấy được diễn tả ngắn gọn trong một câu lục bát với giọng điệu thật tự nhiên và điềm đạm:
Xưa thì chị, nay thì em
Phải duyên chồng vợ nối thêm tơ hồng
Phải chăng, chìa khóa hóa giải nỗi niềm lỡ dở và dễ gợi sự chạnh lòng ấy nằm trong chữ “duyên” – “phải duyên”? Người đàn bà đã nhìn nhận sự gặp gỡ ấy như là một sự tình cờ tốt đẹp của số phận, dẫu muộn mằn và không đợi mà gặp. Nhưng đấy chỉ là một cách nói. Thực tế, cảnh ngộ vẫn đầy những éo le: Được lúa, lúa đã gặt bông/ Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa;... Vẫn đầy những bất trắc, lo âu: Tình yêu một mất mười ngờ/ Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau... Điều cơ bản khiến con người ấy có thể vượt lên tất cả những thử thách của hoàn cảnh là “biết” - hiểu theo nghĩa là sự thấu hiểu, cảm thông và chấp nhận. Câu thơ “Biết thì ruộng hóa cũng nên mùa màng” mang ý nghĩa như một triết lí nhân sinh ngắn gọn mà sâu sắc. Không còn những ảo tưởng bồng bột thời trẻ tuổi về một tình yêu duy nhất và tuyệt đối, những dang dở, đắng cay mà người đàn bà đã trải qua suốt quãng đời dài khiến chị biết vượt lên sự ích kỉ, hờn ghen thông thường, cả những miệng tiếng dị nghị của thói đời, để chắt chiu, trân trọng cái hạnh phúc trong hiện tại, trong cả sự không trọn vẹn của nó:
Đã từng hai mảnh tay không
Kể chi mẹ ghẻ, con chung, chồng người
Dở dang suốt nửa cuộc đời
Bỗng dưng hiện một mặt trời trong nhau
Ta thấy người đàn bà trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến là một con người từng trải và thực tế. Cái mà chị khao khát là cái hạnh phúc có thực, cái ái ân có thực của cuộc đời bụi bặm và lắm hệ lụy nhưng gần gũi này chứ không phải ở một thiên đường cao xa và lí tưởng nào. Sự “thản nhiên” trong câu thơ “Thản nhiên em nhận bã trầu về têm”, thực chất là một sự lựa chọn chủ động trong một tình thế bị động. Khi đã trải qua bao thăng trầm, được mất của đời người, người đàn bà ấy nhận ra rằng, tình yêu không chỉ là chuyện của mỗi một cá nhân, mà còn là chuyện của cuộc đời, của tình người. Cho nên, cho đi chính là được nhận lại. Những đau khổ dạy con người biết nhìn rộng hơn, biết độ lượng hơn, biết tha thứ và sẻ chia hơn. Cần thấy rằng sự tỉnh táo ở đây không phải là sự tỉnh táo của một đầu óc ráo riết duy lí là sự tỉnh táo của một tấm lòng trung hậu. Do đó, bài thơ nói về một cảnh ngộ dở dang, ngang trái nhưng người đọc lại nhận thấy sự vững vàng và nhân ái của một tâm hồn; bài thơ nói đến sự chua xót và đau đớn, nhưng người đọc lại nhận ra một sự thấu hiểu và vun đắp đầy trách nhiệm. Nói cách khác, bài thơ nói về một cảnh ngộ bi kịch nhưng cũng ở đó, bi kịch đã được hóa giải bởi bản lĩnh và thái độ ứng xử đầy nhân văn của con người.
5. Dường như, thơ với Đoàn Thị Lam Luyến là tất cả những trải nghiệm đời sống chân thực nhất của chị. Về điểm này, thơ Đoàn Thị Lam Luyến rất gần với thơ Xuân Quỳnh. Cũng như Xuân Quỳnh, thơ Đoàn Thị Lam Luyến luôn khao khát hướng đến một thứ hạnh phúc của đời thường và có thực chứ không phải trong cõi lí tưởng cao xa nào. Do đó, ta gặp trước hết (và phổ biến) trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến là giọng giãi bày tâm sự. Nhưng sự giãi bầy này không chỉ dừng lại ở những cung bậc thủ thỉ, nhỏ nhẹ. Nhu cầu được “trút xả” tâm sự khiến nhiều lúc, tác giả dường như không chú ý đến việc “làm thơ”, mà dường như chỉ chú ý đến việc nói cho “bõ hờn”, cho “hết nhẽ” những nỗi niềm nghẹn ứ trong lòng. Thành thử, lời thơ chị có lúc rất mộc mạc, đơn giản, giống như lời nói thường, nhưng vẫn đem lại sự xúc động bởi sự chất chứa, dồn nén trong đó (Thành phố không bao giờ từ biệt là một ví dụ tiêu biểu). Nhưng nếu như thơ Xuân Quỳnh thường nói đến một mái ấm gia đình ấm áp, sum vầy thì thơ Lam Luyến nói nhiều đến sự lỡ dở, đắng cay, ngang trái. Cho nên, song hành cùng với giọng điệu giãi bày tâm sự ấy là giọng tự thán chua xót. Giọng điệu tự thán này trỗi lên trong những bài thơ mang cảm hứng thân phận, số phận đàn bà (Gửi tình yêu, Kiều có ở trong em, Bóng người phía trước, Số được vàng,...) Nhưng cung bậc giọng điệu thể hiện đậm nét cá tính của tác giả này là giọng châm biếm, giễu cợt. Nó thể hiện một cái nhìn đầy tỉnh táo và khá ...đáo để của người đàn bà này về cuộc đời và con người. Trước hết là tự giễu. Việc vẽ chân dung của mình như một kẻ “dại yêu”, một kẻ “không có số được vàng” hay “làm nhà trên lưng cá voi”... là kết quả của một cái nhìn trào lộng mà chua chát ấy.
Chính trong cách nhìn này, chân dung người đàn ông nhiều khi không chỉ tầm thường mà còn khá hài hước. Đây là chân dung của một “chiến binh” tình ái: Anh đã về đấy ư/ Dửng dưng và đói khát/ Khi đã ở bên em/ Sao vẫn còn biếng nhác? Ôi, đúng thực anh rồi/ Đâu có gì đổi khác/ Dẫu chẳng còn thanh gươm/ Và không còn manh giáp! (Chiến binh)...Thậm chí, trong cái nhìn giễu cợt và đáo để của tác giả, người đàn ông, “vốn yếu mềm và biếng nhác”, được ví như một “miếng mồi của chiến tranh man rợ diệu kì” – cuộc “chiến tranh tình ái”: Em đã đoạt anh từ tay người đàn bà kia/ Giống như người đàn bà kia/ Đoạt anh từ tay người đàn bà khác.../ Ghen như sôi và giận như điên (Chiến tranh)...
Trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến, sự đan xen giữa các giọng điệu chính là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của thơ chị. Đặc biệt, nó góp phần khắc họa nên chân dung của chủ thể trữ tình: một người đàn bà đa đoan, sắc sảo và “đáo để”, nhưng mặt khác, lại đầy đa cảm, yếu đuối, dễ thương tổn...
6. Hình tượng người đàn bà “dại yêu” càng được khắc họa rõ nét qua một lối viết tự nhiên và mộc mạc. Nhà thơ sử dụng chủ yếu các thể thơ truyền thống: lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ... Tuy nhiên, chị thành công nhất ở thể thơ lục bát. Ở thể thơ này, chị có nhiều bài hay, hàm súc và nhuần nhị (Chồng chị, chồng em, Trên lưng cá voi, Bóng người phía trước, Tích tịch tình tang, Em gái...) Tác giả cũng thường sử dụng những cách nói của ca dao, thành ngữ, tục ngữ hoặc những cách nói thông tục trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, gợi nhiều ý vị dân gian, ví dụ:
- Được lúa, lúa đã gặt bông
Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa
- Gần được ấm, xa được êm
Biết thì ruộng hóa cũng nên mùa màng
- Cái giần vục phải cái sàng
Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau
- Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã trầu về têm
v.v.
Đặc biệt, như đã nói trên, trong thơ chị xuất hiện khá nhiều lần hình ảnh những người đàn bà “dại yêu” trong tâm thức truyền thống: Mị Châu, Xúy Vân, Thị Mầu, Thúy Kiều, Hồ Xuân Hương... Được soi chiếu từ lăng kính của một tâm hồn đồng điệu, hình tượng những người phụ nữ này hiện lên như những con người dám sống, dám yêu, dám hết mình vì tình yêu dù chung cục số phận của họ luôn là bi kịch. Đấy là hình tượng những người đàn bà vừa dân giã, nôm na, vừa mạnh mẽ, quyết liệt, vừa bản năng, nồng nàn, vừa ý thức tỉnh táo, vừa nhẫn nại, chịu đựng, vừa táo tợn, đáo để...Dĩ nhiên, những hình ảnh khách thể ấy cũng là sự phản chiếu đậm nét của hình ảnh chủ thể.
7. Tóm lại, người - đàn - bà - dại - yêu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Đoàn Thị Lam Luyến. Như đã nói trên, nói đến sự “dại yêu” - như một đặc điểm nổi bật của hình tượng người đàn bà này – chính là nói một thứ tình cảm tự nhiên, mang tính bản năng mãnh liệt, không hề tính toán, vụ lợi. Và đó cũng một cách để khái quát hóa về những trái ngang, bi kịch mà người đàn bà “dại yêu” phải nếm trải cùng với thứ tình cảm mê đắm như là “giời đầy” của mình. Tuy nhiên, ta cũng nên nhớ rằng, trước hết, đây là cách mà Đoàn Thị Lam Luyến dùng để nói về chính mình. Cái sắc thái giễu cợt (tuy ẩn chứa không ít xót xa) bộc lộ rất rõ trong cách nói đó của chị. Chính sự tự giễu này cho người đọc nhận ra rằng, dường như sự “dại yêu” ấy ở người đàn bà Đoàn Thị Lam Luyến (và rộng ra, là giới nữ, nói chung), còn là một sự lựa chọn của họ, một sự lựa chọn như là bản năng nhưng xác quyết, bất chấp khổ đau, éo le, ngang trái... Với cách diễn tả giản dị, mộc mạc, đan xen tự nhiên giữa yếu tố trữ tình và tự sự, tác giả còn cho ta thấy ở người phụ nữ này một tấm lòng trung hậu, cởi mở với cuộc đời, dẫu trải qua nhiều đắng cay, đau khổ. Con người này không còn ngây thơ (hoặc cố gắng tỏ ra ngây thơ), ấy là một con người biết nhìn đời một cách thực tế, như nó vốn có, nhưng vẫn không ngừng cái mong muốn về một cuộc sống tốt đẹp hơn, như lẽ ra nó phải có. Chính vì vậy mà nó dẫn đến một điều tưởng chừng nghịch lí: khi nhận ra những “non dại” của mình ấy là khi con người đã tự biết “rút kinh nghiệm”, đã trở nên khôn ngoan hơn. Do đó, trong con mắt của một người đàn bà từng trải đang kiểm nghiệm lại những được mất đời mình thì cách sống, cách yêu ấy là ngây thơ, là ảo tưởng, tóm lại, là... dại! Nhưng trong con mắt của người - đàn –bà – làm - thơ thì bản thân sự “dại yêu” ấy cũng có một vẻ đẹp và ý nghĩa nào đó, đó là vẻ đẹp của sự chân thành và đa cảm trong một tâm hồn chưa bị cuộc đời làm cho trơ lì, chai sạn. Mặt khác, trong sự “dại yêu” ấy, như đã phân tích ở trên, người ta còn nhận thấy một nhân cách, một bản lĩnh mạnh mẽ, cứng cỏi của một người đàn bà dám yêu hết mình và dám chấp nhận trách nhiệm trước cuộc đời, trước số phận. Tính chất mới mẻ và hiện đại của hình tượng này bộc lộ rõ nét trong thái độ sống và cách ứng xử đó. Và có lẽ, đó cũng chính là điều cơ bản đã hóa giải sắc thái bi kịch trong hình tượng người - đàn - bà - dại - yêu của Đoàn Thị Lam Luyến.
VINH, ngày 5/7/2010
LHQ- Khoa Ngữ văn – Đại học Vinh
NGUYỄN NGỌC KÝ - 'NGƯỜI VIẾT BẰNG CHÂN VÀ LÀM CHỒNG 2 CHỊ EM RUỘT'
Cuộc đời Nguyễn Ngọc Ký là cả một thiên tiểu thuyết dài về nghị lực chiến thắng số phận, những thăng trầm trong cuộc đời tài hoa, quan điểm sống tinh tế, cho đến hai cuộc hôn nhân với hai chị em ruột, lâm ly không kém gì chàng Kim Trọng với chị em Thúy Kiều, Thúy Vân.
"Tôi luôn muốn nhìn cuộc sống qua lăng kính trẻ thơ
Tại Đại hội Nhà văn, một người đàn ông tóc muối tiêu, luôn được một người phụ nữ nhỏ nhắn tháp tùng, đi lại len lỏi giữa các nhà văn - thơ, cười nói vui vẻ. Nhưng có vẻ kỳ lạ, ông không bắt tay bạn văn như những người khác, mà chỉ cười hoặc khẽ ... nghiêng đầu chạm vào họ mỗi khi có người hồ hởi đến bên ông chào hỏi.
Đó chính là Nguyễn Ngọc Ký, người viết bằng chân nổi tiếng, người Việt Nam nào lớn lên cũng từng được biết ông qua sách giáo khoa cấp 1, và sau này là "thầy giáo huyền thoại", nhà tư vấn tâm lý, nhà văn... Nguyễn Ngọc Ký.
Sau 35 năm làm giáo viên, tác giả Tôi đi học đã về hưu, hiện đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh, ông là nhà tư vấn tâm lý qua điện thoại của tổng đài 1080. Ngoài thời gian tiếp chuyện tư vấn khách hàng, Nguyễn Ngọc Ký viết sách.
Nếu ở Miền Bắc có "nhà văn đứng viết" Trần Văn Thước và "nhà thơ nằm viết" Đỗ Trọng Khơi vì liệt cả người, thì trong Miền Nam có thể gọi Nguyễn Ngọc Ký là "nhà văn đạp chân" vì tất cả mọi hoạt động của ông đều dùng chân, trong đó có việc sáng tác viết lách, với những ngón chân nhảy múa trên bàn phím.
Cuộc đời Nguyễn Ngọc Ký là cả một thiên tiểu thuyết dài về nghị lực chiến thắng số phận, những thăng trầm trong cuộc đời tài hoa, quan điểm sống tinh tế, cho đến hai cuộc hôn nhân với hai chị em ruột, lâm ly không kém gì chàng Kim Trọng với chị em Thúy Kiều, Thúy Vân.
![]() |
Nhà văn, nhà tư vấn tâm lý Nguyễn Ngọc Ký, Ảnh Hoàng Hường
|
"Chị gái tôi say mê anh ấy từ lần gặp đầu tiên"
Người phụ nữ nhỏ nhắn luôn đi bên cạnh ông, vừa nhẹ nhàng cài lại cho nhà văn chiếc cúc áo tuột, vừa nhỏ nhẹ chia sẻ. Bà là Vũ Thị Đậu, người vợ hiện tại của ông. Ông Ký quay sang nhìn vợ với ánh mắt vừa trìu mến, vừa có phần cảm kích, rồi từ từ cả hai ông bà - người này tiếp lời người kia - say sưa hồi tưởng lại những kỷ niệm... về một người phụ nữ khác, chị gái bà Vũ Thị Đậu, cô giáo Vũ Thị Nhiễu, người vợ đầu của ông Ký.
![]() |
Ông Ký đang ký tặng sách cho một người bạn thơ, Ảnh Hoàng Hường
|
"Nhà tôi có ba chị em gái, chị Nhiễu là cả, thuộc diện xinh đẹp trong vùng (Hải Hậu, Nam Định). Lúc đó, năm 1971, chị tôi đã tốt nghiệp đại học, là giáo viên, chị đang yêu và chờ xây dựng gia đình với một anh du học sinh đang học ở nước ngoài. Vậy mà chỉ gặp anh Ký trong một lần duy nhất, thế mà chị ấy bỏ luôn người yêu để đến với anh ấy", bà Đậu kể.
Hỏi ông Ký có bí quyết nào mà mạnh mẽ thế, ông chỉ cười: "có lẽ do duyên phận", và duyên phận ấy được hiện thực hóa đầy lãng mạn bằng... thơ: "Tối nay hai đứa bên thềm. Trời không trăng, đất dịu hiền lặng im. Khuya về thăm thẳm màn đêm. Vẫn đôi mắt ấy ánh lên sắc hồng. Đây của em cả tấm lòng. Muốn dâng em trọn giữa vòng yêu thương. Đây của anh cả quê hương. Muốn dâng em hết bốn phương đất trời"- thơ của thầy giáo trẻ Nguyễn Ngọc Ký gửi cô giáo Nhiễu, và được cô đáp lại đầy tha thiết: "Dù cho sống gió phũ phàng. Lòng em vẫn đứng vững vàng bên anh".
"Bố tôi biết chuyện. Ông giận dữ ghê gớm, đánh chị tôi lên bờ xuống ruộng. Tôi thương quá phải nhào vào đỡ đòn cho chị. Mãi sau này, chứng kiến anh chị yêu nhau tha thiết, quyết tâm đến với nhau, và được bạn bè người quen đứng ra giới thiệu, "bảo lãnh" về anh Ký, cụ mới nguôi ngoai phần nào rồi "duyệt" anh Ký làm con rể", bà Đậu kể tiếp.
Lý do ông cụ chấp nhận ông Ký - theo bà Đậu kể - rất thú vị: "Vì nghe giọng nói thằng này (ông Ký) cũng sang, và cái tên của nó Ngọc Ký, chữ ký trên ngọc, hay và có vẻ tin tưởng được" nên cụ quyết định gả con gái cả cho ông.
"Chúng tôi chung sống với nhau 30 năm, rất hạnh phúc, đến một ngày bà ấy bị tai biến nằm liệt giường suốt bảy năm thì mất. Khi đó chúng tôi đã chuyển vào TP Hồ Chí Minh sinh sống. Những ngày trên giường bệnh, Đậu từ Thái Bình vào chăm sóc chị, Nhiễu cứ nắm tay năn nỉ Đậu: sau khi chị mất đi, hãy đến với anh ấy (ông Ký), thay chị chăm sóc anh. (Khi đó chồng bà Đậu đã mất gần 10 năm, có hai con riêng). Bà ấy không yên tâm nhắm mắt khi để tôi lại một mình với đôi tay liệt thế này", ông Ký nói.
Bà Đậu tiếp lời: "Lúc nghe chị nói thế, tôi giãy nảy lên phản ứng: em không làm được, ai đi lấy anh rể. Các con của cả hai chúng tôi cũng phản đối. Nhưng mãi sau này, anh ấy cũng thể hiện tình cảm chân thành, các anh chị em anh ấy cũng tỏ ý ủng hộ vun vén, mãi rồi tôi cũng đồng ý. Các con cũng tôn trọng quyết định của mẹ.".
Kể từ đó ông bà đến với nhau đã được 9 năm, sau một đám cưới nhỏ giản dị với sự tham gia của hai bên bạn bè, gia đình. Bà Đậu hết lòng chăm sóc ông như xưa kia chị gái bà đã làm. Con cái hai người thống nhất vẫn giữ nguyên cách xưng hô. Con ông Ký gọi bà Đậu là "dì", con bà gọi ông là "bác".
Hàng ngày, bà đảm nhiệm nhiều vai trò bên cạnh ông: từ chăm sóc ăn uống sinh hoạt, đến trợ giúp ông trong công việc viết lách, tháp tùng ông đi mọi hoạt động bên ngoài, là đôi tay của ông nâng đỡ cả thể chất và tinh thần.
Nhà giáo ưu tú, nhà văn Nguyễn Ngọc Ký sinh ngày 28/6/1947 tại Hải Thanh (Hải Hậu, Nam Định). Tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nay là ĐH KHXH&NV-ĐHQGHN) năm 1970. 2 lần được Bác Hồ thưởng huy hiệu.
Các tác phẩm đã xuất bản:
- Những năm tháng không quên(Tôi đi học) Truyện ký, NXB Kim Đồng, 1970
- Bức tranh vui - Truyện (in chung), NXB Kim Đồng, 1987
- Chú nhện chơi đu - Thơ, NXB Kim Đồng, 1992.
- Quả bí kỳ lạ - Thơ, NXB Trẻ, 1995
- Ngôi nhà hoa - Thơ, NXB Trẻ, 1997
- 101 câu đố vui - Thơ, NXB Trẻ, 1998
- Khoảnh khắc - Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1995
- Xứ thần tiên - NXB Trẻ, 2003
- 125 câu đố vui - NXB Trẻ, 2004
|
Ông Ký nói, có lẽ ảnh hưởng từ số phận và hai cuộc hôn nhân đặc biệt khiến ông luôn muốn và cố gắng nhìn cuộc sống qua những góc trong trẻo, đẹp đẽ nhất, dù cuộc đời đã trải qua quá nhiều thăng trầm. Chính vì thế, ông chọn đối tượng sáng tác chính là dành cho trẻ em.
"Cuộc sống người lớn giờ quá nhiều mỏi mệt và toan tính, khóc toan tính, cười toan tính. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã nói "Cho tôi một vé đi tuổi thơ", tôi cũng muốn mua chiếc vé đó. Thế giới trẻ thơ là thế giới màu nhiệm nhất, lung linh nhất và đẹp đẽ nhất. Tất cả những gì trong thế giới đó đều đáng trân trọng, giữ gìn, và tôi đã mang chúng ép vào những trang sách. Tôi luôn muốn nhìn cuộc đời qua những đôi mắt trẻ thơ ấy:
Trẻ thơ chưa khóc đã cười
Mắt còn như suối miệng thời như hoa;
Đang mưa trời bỗng nắng òa
Mới hay Trời cũng muốn là bé thơ
Đúc kết kinh nghiệm suốt mấy chục năm trên bục giảng, ông luôn xen cài những câu chuyện, câu thơ, câu đố vui vào các bài học, vừa tạo không khí cởi mở, vừa khiến học sinh dễ tiếp thu và gợi mở tư duy của trẻ em. Đến nay, ông đã có một tuyển tập khoảng 1500 câu thơ đố vui kiểu: Rau gì trồng ở đầm ao; Tên luôn nhắc bạn đừng bao giờ lười? Hay Trái gì gợi nhắc mẹ ta; Muốn ăn bạn nhớ phải xoa cho mềm? và một kho chuyện cổ tích.
"Suốt mấy chục năm cuộc đời, với hai thể loại văn chương ấy, không những tôi cứu được tôi mà còn nuôi sống cả nhà, và làm giàu có đời sống tâm hồn tôi", cựu nhà giáo, nhà văn Ngọc Ký tâm sự.
![]() |
Đôi vợ chồng hạnh phúc, Ảnh Hoàng Hường
|
Thế giới tâm hồn ông được chia làm hai phần, một phần theo mãi chuyến tàu của Nguyễn Nhật Ánh về thế giới trẻ thơ, phần còn lại ở bên đường dây tư vấn tâm lý, nơi hàng ngày, hàng giờ ông lắng nghe, chia sẻ và đưa ra lời khuyên cho hàng trăm người đang ở trong những nỗi éo le ngang trái cuộc đời.
Đường dây được nối trực tiếp với điện thoại tại nhà của ông, công việc tuy không vất vả mưa nắng nhưng chiếm nhiều thời gian. Nhiều khách hàng, trong đó có cả những học trò cũ - nhận ra người đang tư vấn là Nguyễn Ngọc Ký thì rất vui, họ tìm được ở ông sự mạnh mẽ để đương đầu với số phận.
Nguyễn Ngọc Ký nửa đùa nửa thật, ông không có đôi tay để vươn ra cuộc đời, nhưng ông lại có một đường dây để nối thẳng đến những nỗi niềm tận đáy sâu tâm hồn con người, và ông mãn nguyện vì với công việc ý nghĩa, mà từ đó ông cũng kiếm được vài triệu đồng một tháng để nuôi gia đình.
Bên cạnh đó, ông đã viết mấy cuốn sách về người vợ cũ, và đang hoàn thiện cuốn về bà Đậu.
Hỏi ông bận rộn như vậy, có còn thời gian làm thơ tặng vợ không? Ông nhìn bà tủm tỉm: tặng nhiều chứ. "Em là bóng cả cây đa; Vẫn là chồi biếc, vẫn là mùa xuân". Bà ấy giờ là "bóng cả" của một đàn con cháu rồi, nhưng với tôi bà lúc nào cũng là "chồi biếc". Bà Đậu liếc ông, khẽ cười.
"Tôi là người đàn ông vô cùng may mắn, tôi được một người phụ nữ ở bên suốt 30 năm hạnh phúc, rồi Trời lại ban thêm cho một người nữa. Đó là điều quá tuyệt vời", ông Ký mỉm cười hồn hậu, khẽ dùng chân gạt chiếc lá rơi xuống người vợ, xoa nhẹ tay bà.
Nguồn: TTVH




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét