Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Phỏng vấn Nhà thơ Nguyễn Duy

Phỏng vấn Nhà thơ Nguyễn Duy:

"Tôi nặng duyên nợ với thơ..."
Phạm Hoàng và Đỗ Quyên thực hiện Lời dẫn:
Để làm lời phi lộ, xin mượn đôi điều sau của nhà báo Lương Châu Phước (Canada) nói về nhân vật chính của chúng ta:
"Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ ở lứa tuổi 40-50 được mến mộ nhất ở Việt Nam. Anh (đang) được mời sang Mỹ để thuyết trình, triển lãm thơ Việt Nam và đọc thơ trong nhiều trường đại học. Anh là tác giả nhiều tập thơ, bút ký, trong đó có tập thơ song ngữ Distant Road / Đường Xa, xuất bản ở Mỹ. Anh có nhiều bài thơ nhiều người đặc biệt ưa thích như: Năm Vòng Đi Ra Biển, Thơ Gửi Người Xa Xứ, Đánh Thức Tiềm Lực, Bán Vàng, Mười Năm Bấm Đốm Ngón Tay, Pháo Tết, v.v... Trong vài năm gần đây, anh có thêm những hoạt động sáng tạo mới lạ: viết lời bình cho một số vở ballet của Ea Sola, tổ chức những cuộc triển lãm thơ, xuất bản những tấm lịch thơ rất dễ thương. Anh có trí nhớ rất tốt, thuộc nhiều bài thơ của mình và của nhiều tác giả khác, có cách đọc thơ độc đáo và nhất là "hát xẩm", hát "tiếu lâm vỉa hè" không thể bắt chước được. Ngoài ra, anh còn là còn là người am hiểu tình hình văn học, thời sự. Và lại còn có tài... nấu ăn "hết sảy"!"
Chúng tôi xin bổ sung: Nhà thơ Nguyễn Duy sinh năm 1947 ở Thanh Hóa, đã được xuất bản 13 tập thơ, 3 tập sách; năm 1982, lần đầu tiên, được giải Quốc gia về thơ với tập Cát Trắng; là người đầu tiên ở Việt Nam phát hành thơ theo cách mới qua các cuộc triển lãm thơ, viết thơ trên thúng, mùng, tranh giấy dó, lịch đề thơ...
Tháng 7-2001, Nguyễn Duy được mời sang Đức và có một buổi nói chuyện thơ, có phòng triển lãm thơ. Chúng tôi đã tới dự và có ghi chép buổi nói chuyện, ngoài buổi trò chuyện riêng với anh. Để bạn đọc có cái nhìn toàn cảnh về cuộc gặp gỡ này, xin trích dẫn phần nói chuyện xen kẽ những câu hỏi của chúng tôi với nhà thơ Nguyễn Duy về thơ với cuộc sống của anh, cũng như những suy nghĩ của anh về thời cuộc.
Nguyễn Duy - Thơ lục bát
+ Nguyễn Duy: Tôi quê ở cái vùng "ăn rau má, phá đường tàu, đục ống dẫn dầu, cắt dây điện thoại", là cái vùng "khu Bốn đẩy ra khu Ba đẩy vào". Tôi sinh ra ở nông thôn, làm ruộng từ bé, đằm mình trong đất cát, rơm rạ, cua ốc và ngôn ngữ của nhà quê. Lớn lên thì đi lang thang nhiều nơi, nhưng mà cái thần hồn của làng quê trong tôi nó cứ nhập vào như lên đồng ấy. Chính thế mà sau này tôi rất thích làm thơ lục bát. Đã một thời người ta bỏ thơ lục bát không làm nữa, nhất là ở cuối những năm 60 ít người còn làm thơ lục bát. Tôi thấy tội nghiệp cho cái thể loại thơ này, người ta bỏ đi thì mình lại nhặt vào. Tôi mài, tôi dũa, tôi thổi vào cái thể thơ lục bát ấy một cái hồn vía của thế hệ tôi. Và cứ thế là tôi làm thơ lục bát và đã có lúc phải tuyên ngôn:
Ta dù lếch thếch lôi thôi
Mong thơ sinh hạ cho đôi ba dòng
Cứ chìm nổi với đám đông
Riêng ta xác định ta không là gì
Cứ bèo bọt bước thiên di
Đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng
Cứ nòi lẩn thẩn nghìn năm
Vu vơ động cỡn tâm thần tâm linh
Cứ là rượu của chúng sinh
Cho ta nhấm nháp cho mình say sưa
Cứ như cây cỏ bốn mùa
Giọt sương giọt nắng giọt mưa vơi đầy
Thơ ơi ta bảo thơ này
Để ta đi cấy đi cày nuôi em
Và cứ đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng mãi như vậy thôi, nên trong thơ của tôi, số lượng thơ lục bát tương đối nhiều. Kể cả đối với những đề tài hiện đại, đề tài mới của những năm 70, 80 và những năm 90, tôi cũng đều dùng thơ lục bát để thể hiện.
Thí dụ như cách đây mấy năm tôi làm bài Cơm bụi ca. Đây là bài thơ viết về Hà Nội. Những ai lang thang ở thành phố trong chục năm trở lại đây rất thích ăn cơm bụi. Cơm bụi vừa ngon vừa rẻ và tại đó người ta lắng nghe được những từ ngữ mới, được đẻ ra từ các quán cơm bụi. Thí dụ như là: "hơi bị"
Giọt rơi hơi bị trong veo
Mắt đi hơi bị vòng vèo lôi thôi
Chân mây hơi bị cuối trời
Em hơi bị đẹp, anh hơi bị nhàu
Hay là những từ rất là trang nghiêm, sử dụng trong các cuộc hội nghị Thượng đỉnh chẳng hạn được đưa ra ngoài hàng cơm bụi và ngược lại những từ dùng ở ngoài đời, không được đứng đắn, cũng được người ta đưa vào các cuộc họp trang nghiêm. Thí dụ, trong một cuộc mặc cả về một món hàng nào đó, chị bán hàng nói: "Bây giờ ông anh phát biểu đi, để cho em quyết!" Và khi trả giá với nhau, người bán hàng nói thách giá cao lên, thì ông anh nói: "Gớm bà chị làm gì mà cao bá Quát thế, thôi nguyễn bỉnh Khiêm đi, em bây giờ cũng đang đội Cấn lắm. Này qua cái thời võ văn Kiệt rồi nhưng chưa phải là nông đức Mạnh đâu nhé, làm gì cũng phải lưu ý đến trần đức Lương, chứ đừng có mà lê khả Phiêu đâu nhé!" Cho nên là mỗi lần về Hà Nội tôi rất thích đi cơm bụi, còn mấy cái nhà hàng khách sạn tôi rất ngại vào.
Xa nhau cực nhớ cực thèm
Ai về Hà Nội gửi em đôi nhời
Cô đầu thời các cụ chơi
Ta nay cơm bụi bia hơi tà tà
Lò mò Cấm Chỉ, Bắc Qua
Mà coi giai gái vặt quà như điên
Tiết canh Hàng Bút, Hàng Phèn
Bún xuôi Tô Tịch, phở lên Hàng Đồng
Cháo lòng Chợ Đuổi, Hàng Bông
Nhật Tân, Âm Phủ mênh mông thịt cầy
Bánh tôm hơ hớ Hồ Tây
Cơm đầu ghế, bát ngát ngay vỉa hè
Cực kỳ gốc sấu bóng me
Cực ngon, cực nhẹ, cực nhoè em ơi!
Đừng chê anh khoái bụi đời
Bụi dân sinh ấy bụi người đấy em
Xin nghe anh nói cực nghiêm
Linh hồn cát bụi ở miền trong veo
Rủ nhau cơm bụi giá bèo
Yêu nhau theo mốt nhà nghèo, vô tư.
"Vô tư" là một từ của cơm bụi và rất nhiều những tữ ngữ mới được sinh ra ở trong những lớp người mới.
Có nhiều người nói một cách khoác lác là nhà thơ là người sáng tạo ra ngôn ngữ; nhưng tôi làm thơ mấy chục năm rồi và cũng nghiên cứu rất nhiều nhà thơ khác, thì tôi thấy là không phải như vậy. Nhà thơ chính là một nô lệ của ngôn ngữ. Gom nhặt ngôn ngữ trong đời sống, mài dũa, lựa chọn và nâng cao nó lên, truyền bá rộng ra. Trong cái thời đại mới này cũng có nhiều từ mới được nhân dân sản xuất ra rồi nhà thơ nhặt lấy, ứng dụng vào trong tác phẩm của mình.
Ở Việt Nam trong khoảng chục năm gần đây có một cái phong trào, đó là phong trào Thi Hoa Hậu: Hoa Hậu Tiền Phong, Hoa Hậu Thể Dục Thể Thao; Hoa Hậu Học Đường, Hoa Hậu Khóm, Hoa Hậu Phường... Tôi có làm một bài về cuộc thi Hoạ Hậu đầu tiên ở Việt Nam, cuộc thi Hoa Hậu Tiền Phong, chủ yếu để tặng hai ông bạn được mời làm giám khảo cuộc thi, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và anh Hoàng Thiệu Khang, một người dạy về mỹ học. Bài thơ đùa diễu hai ông bạn giám khảo nhưng lại được nhiều anh em trẻ thích thú.
Hoa Hậu vuờn nhà ta
Ta dán mắt vào lỗ lồi lõm mỹ học
Nét đẹp sinh thành từ đường cong
Nhan sắc phô phang cái lý luận của nó
Tài năng đừng hòng mà chen ngang
Cả vô thức, ý thức đều bị loại
Cuộc thi dành cho những gì Trời cho
Người thi người còn ta thì thi nhìn
Khán giả buông lơi cái nhìn thành thực
Ban giám khảo có vẻ nhìn nghiêm túc
Nhà giáo dục nhìn hé hé mắt
Nhà chức sắc nhìn nghiêng
Nhà phê bình nhìn xiên
Nhà thơ lơ mơ nhìn cuốc hoá ra gà
Nhà nhiếp ảnh nhìn vằn vặn vèo vẹo
Nhà báo nhìn lươn lươn lẹo lẹo
Nhà buôn nhìn lắt la lắt léo
Nhà quê nhìn em bằng con mắt lá mắt vui vui, khúc ruột lại buồn buồn
Ta dán làm sao hết lỗ thủng định mệnh,
Em thoát làm sao khỏi cơ chế thị trường
Hậu Hoa Hậu còn gập ghềnh lắm
Thua cũng thương mà thắng cũng thương
Hồng nhan ạ, giá ta làm chủ khảo

Để em thi với cỏ nội, hoa vườn


Nguyễn Duy - Chiến tranh và hoà bình
- Phạm Hoàng: Hôm nay là lần đầu tiên tôi được nghe chính nhà thơ Nguyễn Duy đọc thơ của mình, còn lúc trước tôi được biết về thơ Nguyễn Duy qua các báo chíCó một bài thơ mà tôi rất thích và tâm đắc mà quên tựa đề, hình như nói về một người lính biệt động quân. Và điều thứ hai, được biết không phải lần đầu tiên nhà thơ Nguyễn Duy tới Đức, tới Berlin, vậy anh có làm bài thơ nào ở Đức hay không và nếu có xin mời anh đọc để tặng cho mọi người?
+ Nguyễn Duy: Thứ nhất là tôi xin đọc bài thơ mà anh vừa nhắc, đó là bài thơ Đứng Lại. Bài này tôi viết ở mặt trận Quảng Trị năm 1972 và cũng rất là phiền khi bài thơ này được đọc ở trường đại học Tổng Hợp Hà Nội thì cũng bị phê phán. Ông Hà Xuân Trường, khi đó là Trưởng ban Tuyên Huấn Trung Ương, có viết phê bình trên báo rằng đây là bài thơ theo tinh thần chủ nghĩa nhân đạo chung chung. Trong bài thơ nói về một anh lính: là tôi, đuổi theo một anh lính đối phương. Tôi có thể, có quyền bắn anh hoặc bắt anh đó. Trong hai chiến thắng đó thì tôi chọn chiến thắng cao hơn là bắt chứ tôi không bắn. Bài thơ như sau:
Đứng lại
- Đứng lại!
hắn vẫn chạy trước tôi ba buớc
cái thằng biệt động quân non choẹt
chính cái thằng bắn sượt thái dương tôi
Ngón tay tôi căng thẳng trên nấc cò
băng đạn AK va bụng tôi tấm tức
chỉ cần nửa tích tắc
Không! Một phần mười tích tắc
ngón tay tôi khẽ nhích nửa li
thì hắn không được làm người nữa
- Đứng lại!
Hắn vẫn cắm cổ chạy
tôi vẫn lăm lăm khẩu súng rượt theo
đuổi bắt thật vất vả hơn nhiều
So với ấn nấc cò một phần mười tích tắc

Điều đó tôi rất biết
cũng như chẳng may có đảo ngược
tôi tay không - phía trước
hắn lăm lăm khẩu M16 - đuổi sau
có thể tôi đã hết làm người
chỉ cần một phần mười tích tắc
Băng đạn đầy đập bụng tôi tấm tức
đập mạnh hơn là ý nghĩ trong tôi:
"Giết chết hẳn dễ thôi
cứu hắn sống đời người - mới khó..."
Ý nghĩ đó nâng tôi vượt lên
vượt lên...
vượt lên
với tất cả sức mình
bắt được hắn
đứng lại!
Đó là bài thơ của 30 năm trước. Còn bài thơ của 10 năm trước ở Đức là bài thơ ngắn tôi viết tặng bé Hải Anh, bé hôm nay đang ngồi ở đây. Tôi từ Tiệp Khắc qua bên này thì phát hiện ra ở Dresden có rất nhiều rau muối và bè Hải Anh dẫn tôi đi hái rau muối.
Nắng hoa đồng nội chói chang
Mùi hoang dại cỏ gợi hoang vu người
Rau muối là rau muối ơi
Không dưng cuối đất cùng trời theo nhau
Hồi đó tôi có viết phóng sự về những người Việt Nam ở Đức, phóng sự Đông Âu du ký, đăng 10 kỳ ở báo Lao Động, trong đó có những chương viết về nước Đức. Thật ra vấn đề của nước Đức lúc đó tôi muốn viết lắm, nhưng hoàn cảnh viết chưa được. Chỉ có bài Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh/ Phe nào thắng nhân dân đều bại, tôi đã bị làm phiền rất là ghê. Lúc đó tôi muốn viết là viết về Bức tường thành Berlin, sự hình thành ra nó, sự phá vỡ nó và biểu tượng của nó trong thế giới hiện đại, nhưng mà thú thật là chưa viết được. Nó vẫn còn là một món nợ mà đến một lúc nào đó tôi sẽ phải trở lại cái đề tài này.
- PH: Tôi không có tài năng gì về thơ cả nhưng xin kể một câu chuyện nhỏ. Cách đây khoảng vài năm, hai người bạn làm thơ của tôi có gặp tôi và chị Đoàn Thị Lam Luyến. (Chắc là anh Duy có biết chị Luyến?) Hai người bạn làm thơ đã đưa thơ của mình để chị Luyến xem và góp ý, thì chị Luyến có phê: "Thơ của anh thật thà quá!", và nói với người kia là "Thơ anh rất hay và có cái giọng của Nguyễn Duy". Quả thật trước đó tôi biết rất ít về anh và sau đó tôi có để tâm tìm hiểu. Theo tôi cái nhận xét là "có phong cách Nguyễn Duy" là một lời khen và một trong những đỉnh cao của thơ Nguyễn Duy là bài Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc mà anh mới đọc.Tôi nghĩ, anh để rất nhiều cái tâm vào đó. Vừa rồi anh cũng nói là muốn mài dũa, muốn theo đuổi thơ lục bát, nhưng tôi thấy những bài đánh vào lòng của anh, cho dù có thể không phải chủ ý của anh mà là do người đọc, lại nằm ở những bài không phải lục bát chút nào hết. Nếu tôi nhớ không nhầm thì trước đây khoảng một vài năm cũng có những bài phê bình ở trong nước hành hạ anh cả về mặt đặt câu thơ.
Tôi muốn hỏi tò mò một chút là anh bắt đầu cách viết thơ không có vần vào thời điểm nào, có thể anh thích một thể loại thơ nào đó, hoặc một thần tượng nào đó, hay là do một thôi thúc nào đó làm anh kiểu viết thơ như vậy?
+ ND: Thực ra cái lúc mà tôi đi học ở trường Lam Sơn - Thanh Hoá, lúc đó khoảng 14-15 tuổi, tôi cũng làm thơ và gửi nhiều báoDạo đó tôi rất thích kiểu thơ gọi là hiện đại hoá và có làm một bài thơ tựa đề là Người vợ của tôi
Tôi hình dung người vợ của tôi
da thịt bằng gang, tim gan bằng chì và ruột bằng cứt sắt
cái mặt nửa đỏ nửa đen, răng lợn lòi nhọn hoắt
đôi mắt đèn pha phòng không sáng quắc
khi trợn lên mắt thiên hạ nhắm nghiền
nụ cười dịu hiền ngoác ra như hố bom
khi xuất hiện là miệng đời méo xệ
và giọng nói là xe tăng gầm xé
khi cất lên tất cả phải im hơi
Bởi rất yêu người vợ của tôi
nên tôi phải hình dung như thế
Và cứ kiểu ấy tôi làm rất nhiều, rồi gửi mãi mà chả có ai in cả. Sau, thấy người ta đua nhau làm hiện đại hoá thơ, bỏ lục bát thì tôi lại nghĩ: Mình nhặt lại cái lục bát đó mình làm. Đi tìm lòng vòng như vậy rồi tôi lại trở về điểm xuất phát. Tôi còn nhớ một bài thơ viết vào năm 1957, khi đó tôi đang học lớp hai ở trường Đò Lèn, bài Trên sân trường:
Đứa chơi đáo đứa nhảy vòng
còn tôi ngắm nhìn dòng sông
tôi không chơi đáo vì không có tiền
Có tiền tôi cũng không chơi
vì tôi không muốn bạn tôi mất tiền
Tôi vui tôi ngắm tôi nhìn
Con sông có bóng con thuyền thả câu
Những bài thơ mà tôi thích nhất vẫn là những bài lục bát. Còn những bài thơ mà tôi gọi là thơ hạng nặng như vừa đọc thực ra nó được nhiều người quan tâm bởi vì nó đi thẳng vào những chuyện của ngày hôm nay, tâm tình của thời cuộc, mối quan tâm, mối liên hệ rộng với rất nhiều người, liên hệ sâu với nhiều lĩnh vực xã hội. Thật ra, nếu nói riêng về thơ thì những bài thơ đó không phải là những bài tôi thích. Tôi thích vẫn là những cái nhỏ nhỏ:
Giọt rơi hơi bị trong veo
Mắt đi hơi bị vòng vèo lôi thôi
Chân mây hơi bị cuối trời
Em hơi bị đẹp anh hơi bị nhầu
Lơ ngơ hơi bị ấm đầu
Mù mờ hơi bị ngu lâu tàn đời
Thần kinh hơi bị rối bời
Người hơi bị ngợm ta hơi bị gì
Đấy đại loại là như thế, những cái nho nhỏ mà tôi nghĩ là nó sẽ có sức sống dài hơn những bài thơ dài mà tôi vừa đọc xong, bạn ạ!
- PH: Thưa anh, ở đây ai cũng gọi anh là nhà thơ Nguyễn Duy và anh đọc thơ của mình cũng rất hấp dẫn, triển lãm thơ của anh cũng rất hay, nhưng tôi có nghe nói rằng, anh tuyên bố sẽ không làm thơ nữa. Vậy mà qua những câu chuyện anh vừa kể ở đây, tôi thấy anh vẫn còn những cái bức xúc, những cái xúc động về những vấn đề buộc anh vẫn phải làm thơ. Nay muốn hỏi "câu tuyên bố" đó có đúng không và khi nào anh sẽ làm thơ trở lại?
+ ND: Cái lời tuyên bố đó là đúng và tôi đã thực hiện đúng điều tôi nói từ năm 1997. Tôi làm triển lãm kỷ niệm tôi 50 tuổi đời và 30 năm làm thơ (kể từ lúc in bài thơ đầu tiên năm 1967). Bài thơ gần đây nhất là Bài ca phiêu lưu viết vào đêm Giao thừa (dương lịch) ngày 31.12.1996 tặng cho cô Esola.
Xin em đừng nản lòng yêu
Tình tang là cuộc phiêu lưu tuyệt vời
Xin em đứng ngán cuộc chơi
Phiêu lưu đã nhất trần đời là mơ
Xin em đừng mỏi mong chờ
Phiêu lưu tới bến tới bờ còn xa
Xin em đừng vội vã già
Hiểu cho nhau sống đã là phiêu lưu
Có thể kể đó là bài thơ mà đến đó tôi ngừng. Sỡ dĩ như vậy là vì sau 30 năm làm thơ, nhìn lại từ cái thơ nho nhỏ cho đến cái thơ lơn lớn, nhè nhẹ cho đến nằng nặng, loại gì tôi cũng có làm, kể cả thơ trào phúng, hài hước. Bây giờ tôi thấy mình làm gì cũng lặp lại mình. Cái đó là tôi nói thực. Chuyện nhỏ mình cũng lặp lại, chuyện lớn mình cũng lặp lại, mình không vượt qua được những cái mà mình đã làm, không vượt qua được chính mình nữa thì nếu tiếp tục nữa, nối dài nữa sẽ rất phí thì giờ. Thì thôi mình ngừng lại đó để làm việc khác. Mấy năm vừa rồi tôi làm một loạt các hoạt động triển lãm, làm lịch, mở ra một cái lối phát hành cho thơ ca. Cho đến bây giờ cũng có nhiều người bắt đầu làm theo cái cách của tôi. Và tôi muốn dành thì giờ để viết sách. Trong bụng tôi hiện nay có rất nhiều những cuốn sách về số phận những người thân, của bạn bè, và của bản thân tôi. Một tuổi thơ; một làng quê; một cuộc chiến tranh như thế, một cuộc vận động xã hội khủng khiếp mà tôi đã trải qua, rồi về cộng đồng người Việt, số phận những người Việt ở nước ngoài, những người lao động ở Liên Xô, Tiệp Khắc, ở Đức mà tôi đã chứng kiến; cộng đồng người Việt ở Bắc Âu, ở Thụy Điển; ở Pháp; ở Mỹ...
- PH: Là người phụ trách tuần báo Văn Nghệ ở miền Nam, anh cho biết qua về nền thơ mới của Việt Nam cũng như thơ ca Việt Nam hiện nay ra sao?
+ ND: Dù làm trong bộ phận của tuần báo Văn Nghệ ở miền Nam, vì mấy năm nay không làm thơ nên mối quan tâm của tôi với thơ, với những anh em đang làm thơ cũng không được đầy đủ lắm. Tôi nghĩ bây giờ cũng chưa có một cái gì đặc biệt hay về thơ. Còn thơ là ngôn ngữ của hồn người thì lúc nào con người còn thơ nó còn, từng giai đoạn thơ có trào lưu, có thoái trào. Hiện nay người ta đang tìm một lối cho thơ mới, tuy cái cũ thì không ai muốn làm nhưng cái mới lại chưa ai tìm ra đó là cái gì, cho nên anh em làm thơ còn lúng túng nhiều thứ lắm. Tôi đọc thơ của anh em người Việt ở Mỹ, ở các nơi khác cũng vậy thôi. Lúng túng lắm, như bây giờ mình cũng rất lúng túng là sống như thế nào. Sống đã còn lúng túng huống hồ là làm thơ.
- PH: Lúc nãy anh có nói thấy buồn khi những bài thơ của anh gặp trắc trở không đến ngay được với bạn đọc. Vậy anh có thấy là may mắn không khi anh không phải "tuẫn tiết"(cách nói của anh lúc nãy) về những câu thơ của mình, như là một số nhà thơ Việt nam đã từng gặp phải?
+ ND: Tôi vẫn thích những bài thơ nho nhỏ, những câu lục bát bình dị, còn những bài thơ thế sự mang đậm cái tình cảm, tinh thần công dân có một tiếng nói với đất nước vào cái thời mà mình sống. Tôi nghĩ là nó ở trong những cơn bực dọc, phẫn nộ, bất bình, cáu kỉnh... mà mình lớn lối đại ngôn. Nó giống như là quát lên, la lên, bức xúc... Chứ còn thật tình là tôi không muốn làm những bài thơ như vậy.

Nguyễn Duy: Thơ và thời cuộc
+ Nguyễn Duy: Tôi xin kể câu chuyện sau về một bài thơ, bài Nhà thơ và cảnh nghèo. Sau này khi được in tên bài thơ được đổi là Thơ tặng người ăn mày. Đây là bài thơ tôi viết trong vụ lụt năm Quý Sửu, 1973 tại Thanh Hoá, một trong những bài thơ phá cách hồi đó, vì lúc đó người ta thường làm những bài thơ kiểu tụng ca, minh hoạ, còn những điều nói thẳng nói thật về thực trạng xã hội rất khó phổ biến. Không những không được thông cảm mà đôi khi còn bị tai hoạ nữa. Bài này là một trong những thí dụ. Thanh Hóa quê tôi có rất nhiều vua, có tới 5 đời vua, 2 đời chúa... Có thể nói là nhiều đời vua nhất trong lịch sử Việt Nam, nhưng đồng thời ở quê tôi cũng là nhiều ăn mày nhất. Cũng không hiểu tại sao lại có những nghịch lý như vậy, chỉ ghi nhận thế thôi. Ngày xưa người ta có nói: Thái Bình đẹp lắm ai ơi/ Tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành, nhưng về sau thì chính người dân Thái Bình còn phải đón tiếp ăn mày của Thanh Hoá ra. Những đoàn đi ăn xin rất hùng hậu, có xe ô-tô chở, có trưởng đoàn, có giấy giới thiệu để đi: Tự túc lương thực. Hồi tôi đi làm vở múa Hạn hán và cơn mưa, tôi có về Thái Bình, nằm ở Quỳnh Phụ mấy tháng, nghe người dân ở đây kể lại rằng "Dân Thanh Hoá nhà ông ra đây tàn phá quê tôi ghê gớm lắm!" Tôi lại nhớ tới vụ lụt năm 1973, người ăn xin đầy đường, nhiều người đem con đi cho... Lúc đó tôi là một người lính nghèo, bản thân không có tiền, đi tầu từ Hà Nội về Thanh Hoá cũng phải lậu vé, mà chữ nghĩa thì chả giúp gì được người đói cả. Đó là xuất xứ của bài Thơ tặng người ăn mày.
Sau này tôi cứ bị ám ảnh mãi vì cảm giác gặp những người ăn mày hồi đó và tôi tự nghĩ nếu mà mình viết được cái gì với một tâm trạng thực, tấm lòng thực, chia sẻ được với tình cảnh thực của mọi người thì thú vị hơn là làm một công việc của một anh hề, một anh bồi bút. Vì nỗi ám ảnh như vậy, tôi nghĩ rằng mình làm thơ bằng những xúc cảm, thích thú của mình, chứ không phải vì những đồng nhuận bút, để viết, để in... Về sau, khi tôi làm lịch, làm các tập tuyển thơ khi phát hành lại bán được, phóng viên báo Lao Động có hỏi tôi: "Tại sao thơ của anh bây giờ lại bán được? Anh có thể giải thích một chút và anh có nghĩ gì về chuyện ấy không?" Thời tôi bảo là có lẽ vì cái lúc mà tôi làm thơ tôi không nghĩ đến chuyện tôi bán nó, bây giờ qua nhiều năm những cái gì còn, lại có người cần tìm. Nếu tôi làm được chữ nào lại đem bán ngay chữ đó thì chắc bây giờ tiêu cũng hết rồi, chả còn lại gì cả.
Ngoài những bài thơ về tình yêu, về đồng đội... tôi còn viết nhữngbài thơ về làng quê tôi, về những người thân như mẹ tôi, bà tôi, cha tôi... Đó là những tình cảm mà nhiều người cùng chia xẻ. Rồi tôi viết về những tình cảm thực của chính mình, thí dụ như năm 1980 - cái thời Hậu chiến gian khổ - khi vợ tôi sinh cháu thứ 3, tôi phải làm đủ mọi thứ nghề để kiếm sống. Sau đó tôi làm một bài thơ tên gọi là Bán vàng (1980).
Có một bài thơ trở thành một kỷ niệm của giai đoạn lịch sử ấy. Đó là bài Đánh Thức Tiềm Lực. Tôi viết nó trong 2 năm, từ 1980 đến năm 1982 mới xong và khi bài thơ viết xong thì cũng không in ở đâu được. Bài thơ được truyền bá, lúc đầu bằng cách tôi đọc vào băng ghi âm và sau đó thì người in lại, phát hành lan truyền cái băng đó. Mãi đến năm 1986, tờ Tuổi Trẻ của thành phố Hồ Chí Minh mới in bài thơ này. Trước đó đúng ra đã được in một lần vào tháng 12.1984 ở một tờ báo địa phương, tờ Văn Nghệ Đông Nai của nhà thơ Xuân Sách, nhưng hầu như không có ai đọc. Bây giờ tôi nhớ về bài thơ đó và nghĩ rằng, vào thời điểm đó nếu bài thơ được in sớm hơn thì có lẽ nó sẽ có đóng góp tốt hơn.
Và tôi vẫn cứ âm thầm với ý nghĩ, mình viết một cái gì đó mà tâm tư được với người nghe, chia xẻ từ những tình cảm rất nhỏ đến tình cảm với cả một cộng đồng dân tộc, thì chỉ có mỗi một cách thôi: Là phải chân thành! Tôi cũng chưa thấy ai nói dối có hiệu quả cả. Khôn và ngu đều có tính mức độ.
Về bài Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc, năm 1988, tôi viết ở Học viện Gorky, Mạc-tư-khoa. Tôi đưa bài thơ này cho ông Nguyên Ngọc, lúc đó là Tổng biên tập báo Văn Nghệ, thì ông Nguyên Ngọc bảo chưa in được. Tôi đưa cho chị Kim Hạnh, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ và chị Kim Hạnh cũng nói: Chưa in được. Thế rồi ông Tô Nhuận Vỹ, lúc đó là Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, mang về Huế in, nhưng in xong thì tạp chí Sông Hương bị đình bản. Lúc đó là rất căng đối với bài thơ này. Ít năm sau bài thơ mới được công nhận. Và tôi cũng tiếc mãi, vì cái lúc nó cần được phổ biến ngay thì không được phổ biến, để lâu khi bài thơ được chấp nhận thì những vận động xã hội đúng như mình trình bày đã phần nào bị muộn. Nhưng tôi cho là để tác động vào ý thức hệ thì chả có lúc nào muộn cả. Ngay bây giờ tôi thấy nó vẫn còn có thú vị về tính thời sự của nó. Bây giờ đọc lại thấy các cái thứ nghị quyết thực ra trong bài thơ này đã nói từ lâu rồi. Sau, tôi có viết một bài ở báo Văn Nghệ, Nói và nghe sự thật, bởi vì mình viết được ra sự thật đã là khó nhưng nghe được sự thật lại còn khó hơn. Tôi muốn đọc lại bài thơ này với các anh, các chị vì tôi nghĩ là các anh, các chị có thể có sự đồng cảm với tôi; và để các anh, các chị tự xác nhận xem những suy nghĩ của tôi có đúng không hay nó đã trật trìa mất rồi.
Năm 1979 biên giới Lạnh Sơn có chiến tranh, tôi có mặt ở đó từ những ngày đầu tiên và một trong những người rút lui cuối cùng khỏi mặt trận Lạng Sơn. Rồi đến năm 1989, kỷ niệm 10 chiến thắng biên giới tôi được mới trở về dự lễ kỷ niệm ấy. Lúc đó tôi thấy trên đống gạch đổ nát ngày xưa đã mọc lên những quán xá, người Việt người Hoa ngồi uống rượu nhậu nhoẹt với nhau rất là vui, hàng nông thồ sản được gùi sang Trung Quốc, rồi bia Vạn Lực từ Trung Quốc lại được gùi qua bên này. Lúc đó tôi chạnh nghĩ giá 10 năm trước đừng có đánh nhau, mà cứ nhậu nhoẹt như thế này thì có khi cuộc đời hay hơn. Tôi cứ tiếc mãi. Hồi đó tôi có làm một bài thơ là Lạng Sơn 1989, tặng một cô giáo ở trường Đông Kinh Phố, trong tổ giáo viên chốt trụ lại trường khi xảy ra chiến tranh và khi chúng tôi rút lui thì cũng họ rút về xuôi. Tôi hình dung cái cuộc đánh nhau năm 1979 là cuộc đánh nhau của hai anh A.Q và Chí Phèo, mà rồi cuối cùng chả anh nào thắng cả, anh nào cũng thua.
Lạng Sơn 1989
(Tặng một người dưng)

Ta về thăm chiến trường xưa
Em - hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân
gió đi để lại mưa dầm
người đi để buốt dấu chân trên đường
Đồng Đăng... Aỉ Khẩu... Bằng Tường...
chợ trời bán bán buôn buôn tít mù
ta đầy một bị ưu tư
giá như cũng bán được như bán hàng
Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan
giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo
A Qui túm tóc Chí Phèo
để hai bác lính nhà nghèo cùng thua
Nỗi Tô Thị xót xa chưa
giá như đừng biết ngày xưa làm gì
giá như đá chả vô tri
để ta hỏi lối trở về thiên nhiên
Giá như ta chớ gặp em
để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng
giá như em đã có chồng
để bòng bong khỏi rối lòng người dưng
Rồi cũng năm 1989 (tôi nhớ là ngày 29.08.1989) tôi có mặt ở đợt rút quân cuối cùng của quân đội Việt Nam khỏi Campuchia. Tôi nhìn những người dân Campuchia đen đúa, đói khổ và nghĩ: Sau khi bộ đội Việt Nam rút đi, quân của Polpot, Hunsen, Ranahdit... phe này phe kia đánh nhau lung tung beng cả lên thì những người dân đói khổ kia sẽ ra làm sao? Tự nhiên tôi thấy xót lắm. Cái lúc mà mình ở trong một cuộc chiến tranh mình không cảm thấy hết, bằng khi mình đứng ở ngoài nhìn vào cuộc chiến tranh của một dân tộc khác. Tôi làm bài thơ Đá ơi
Ta mặc niệm trước Ăng-co đổ nát
đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người
Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại...
Bài thơ này tuy ngắn nhưng như một lời chúc tụng của tôi với hoà bình. Trong các cuộc đọc thơ của tôi ở Việt Nam hay cũng như ở nơi nào đó tôi đều đọc bài thơ này. Năm ngoái nhân kỷ niệm 25 năm ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, một tờ báo ở Mỹ đã dùng câu thơ:
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại...
làm một cái tiêu chí cho đợt kỷ niệm của bang Connecticut, vì ngay cả người Mỹ cũng có những tổn thất rất lớn trong chiến tranh Việt Nam nên họ cảm thông về câu thơ này. Có người nói rằng cần phải phân biệt chiến tranh chính nghĩa hay chiến tranh phi nghĩa, tôi nghĩ chính nghĩa hay phi nghĩa lại là một việc khác, nhưng còn tổn thất của bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, kể cả chính nghĩa, kể cả phi nghĩa, thì đều rơi lên đầu người dân hết. Cho nên bài thơ này đối với tôi là một cái lời cầu nguyện:
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại...
Tôi nói điều đó với tư cách của một người từ trong cuộc chiến tranh đi ra, đã chết hụt không dưới 10 lần, và tôi nghĩ rằng mình còn sống được ngày nào thỉ đã là có lãi rồi. Lời lãi của mình là những ngày đang sống cho nên nếu có nói một điều gì, viết một điều gì thì phải hết cái lòng chân thành của mình, không thể khác được.
Lúc nhỏ tôi sống ở Đò Lèn, là vùng đất phát tích của nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn ở Thanh Hoá và phát tích ỡ xã Hà Long huyện Hà Trung, đó là quê của tôi. Năm 1993 vợ tôi bị sụt cột sống, tôi phải chăm vợ và lo cho các con một năm. Tôi thấy thật là vãi linh hồn. Nên tôi viết tặng vợ tôi bài thơ này:
Vừa một xuân lại một xuân
Vợ ơi đại hạn đã gần một năm
Một nhà là sáu mồm ăn
Một thi nhân hóa phăm phăm ngựa thồ
Cái lưng em sụm bất ngờ
Tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rờ
Thông thường thượng giới rong chơi
Trần gian choang choác sự đời tùy em
Nghìn tay nghìn việc không tên
Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng
Thình lình em ngã bệnh ngang
Phang anh sất bất sang bang sao đành
Cha con chúa chổm loanh quanh
Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên việc địa việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn
Thế hệ những người làm lính của chúng tôi cho đến bây giờ, tôi nghĩ rằng, họ vẫn đang ấp ủ cái mơ ước làm cho đất nước này nó đẹp lên. Vừa rồi tôi có tới một cái làng, gọi là "làng Việt cộng" ở Boston, bang Massachusetts. Một khu vực của những người Việt Nam mà toàn là bộ đội vượt biên, họ cụm lại với. Đây là một buổi mà tôi được trò chuyện với những người Việt ở nước ngoài một cách chính thức, còn như ở Mỹ thì hoàn toàn chưa có những buổi như vậy. Tôi có chừng độ quãng 40-50 buổi đọc thơ ở Mỹ vào năm 1995, 2000 và 2001, nhưng toàn là trong các trường đại học của Mỹ, hay với một vài người Việt Nam mà tôi quen biết ở Sài Gòn trước khi họ vượt biên. Chứ còn với cộng đồng người Việt ở Mỹ thì xin thưa là tôi chưa được một may mắn nào để tiếp xúc chính thức. Bởi bì những cái mặc cảm chính trị của cộng đồng người Việt ở Mỹ còn khá phức tạp. Như vừa rồi nhóm ca sĩ như Phương Thanh, Lam Trường, Lam Phương và một vài người nữa dự định biểu diễn tại 6 thành phố ở Mỹ, nhưng đi đến đâu cũng bị cộng đồng người Việt tẩy chay, biểu tình rất đông với khẩu hiệu hô chống tuyên truyền cộng sản. Có hai ông nhà nghiên cứu là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đến đại học Massachusetts nghiên cứu về văn hoá của cộng đồng người Việt di tản cũng bị biểu tình chống đối. Vì thế mà tôi chưa có dịp được tiếp xúc với người Việt Nam của mình ở Mỹ.
Để viết một bài thơ dài tôi thường mất vài năm, tôi phải viết lặp đi lặp lại mất nhiều công, còn ý tứ để dồn lại thì phải mất từ nhiều năm trước đó. Bài Đánh thức tiềm lực nhanh nhất cũng mất hai năm; bài Nhìn từ xa... Tổ quốc tôi làm mất 4 đến 5 năm. Bài thơ tôi sắp đọc, bài Kim Mộc Thủy Hoả Thổ, bài này tôi viết xong năm 1991, năm 1992 thì in ở tạp chí Cửa Việt do anh Hoàng Phủ Ngọc Tường làm Tổng biên tập. Vừa in xong thì tạp chí Cửa Việt cũng bị đình bản và ông Hoàng Phủ Ngọc Tường mất việc từ hồi đó vì bài thơ này. Và cũng phải sau 5 đến 7 năm thì mới có một cách nhìn nhận bình thường về bài thơ và cho đến bây giờ thì một phần nào đó những điều mình muốn trình bày lại bị lỗi thời rồi, nhưng cũng còn đôi điều có thể nói lại với nhau được.
- Phạm Hoàng: Thưa anh Nguyễn Duy, có thể nói anh là một nhà thơ "đi Tây" nhiều nhất trong những nhà thơ ở Việt Nam. Qua những lần anh đi như vậy anh có cảm nghĩ gì về đồng bào ta ở ngoài nước và đặc biệt là anh em văn nghệ sĩ, những người làm thơ, những người sáng tác ở nước ngoài?
+ Nguyễn Duy: Tôi gặp gỡ người Việt ở nước ngoài nhiều, tôi đi nhiều và có một cái thú là đi bằng... thơ. Tôi rất mừng là như vậy. Tôi chả là quan chức gì, không phe phái nào tôi chỉ có là phe... phe làm thơ thôi. Tôi đi như thế và tôi đọc thơ, bán thơ, bán lịch rồi tôi đi tiếp. Tôi thấy một điều như thế này, con người ở đâu cũng là con người, đã dính líu đến hoạt động chính trị thì con người nó bị lưu manh hoá đi. Những cái hoạt động chính trị cực đoan thì ở phía nào cũng đều không tốt. Trong một diễn đàn về Đông Dương của trường đại học Conlombia, Nữu Ước, năm 1995, tôi cũng đã có nói những điều này. Người ta quan tâm đến văn học Việt Nam hiện đại, đôi khi người ta quan tâm đến việc chống đối chính phủ ở cái khu vực chính trị thuần túy, tôi không đồng ý cái đó. Văn chương là văn chương. Nhà văn có thái độ của chính trị nhưng nhà văn không phải là cái đuôi của chính trị. Mà nếu anh là cái đuôi của chính trị thì anh ở thái cực nào cũng tầm thường như nhau hết. Tôi không muốn sa vào nó, nên khi nhiều người gọi chung một số phản ứng của các nhà văn ở Việt Nam là Văn học phản kháng, tôi đã bảo như vậy là không phải. Phản kháng vẫn là một hoạt động cực đoan của chính trị thôi, điều quan trọng hơn cái phản kháng mà tôi thấy, tôi làm và tôi đánh giá: Đó là dòng văn học thức tỉnh, một nền văn học đã có từ hàng nghìn năm nay và tôi là người theo cái mạch đó chứ không phải là ở những thái cực chính trị.
- - PH: Anh vừa nói đến nhà văn với chính trị thì tôi nhớ đến hiện nay ở hải ngoại, trên mạng Internet cũng có cuộc tranh luận về trí thức-văn nghệ sỹ Việt Nam với thời cuộc. Đã có nhiều anh em ở trong nước tham gia với những ý kiến xác đáng. Xin hỏi anh một câu ngắn về thái độ của người trí thức-văn nghệ sĩ với thời cuộc của đất nước?
+ ND: Là một nghệ sĩ mà anh đã đứng về phe Nhân Dân, Dân Tộc thì trong bất kỳ thời đại nào anh phải có thái độ chính trị của mình. Nhưng để nhảy ra làm một cái thứ chính trị manh mún, lặt vặt, tẹp nhẹp thì cái đó không là công việc của những nghệ sĩ lớn.
- PH: Khi anh sang Berlin lần đầu vào đúng thời điểm cổng thành mở, hai miền Đông-Tây Đức thống nhất, vô tình anh đã chứng kiến một thời điểm lịch sử của nước Đức. Thế khi đó cảm tưởng của anh như thế nào?
+ ND: Thứ nhất là tôi mừng cho nước Đức, cho dân tộc Đức thống nhất, sống với nhau hoà thuận mà không phải trải qua một cuộc chiến tranh đẫm máu. Và, tôi nghĩ rằng tôi sẽ trở lại cái đề tài này vào một lúc nào đó.
- PH: Tôi cũng từng là một người lính và anh cũng là một người lính làm thơ, chúng ta đều trải qua cuộc chiến ở Việt Nam. Bây giờ, gần 30 năm trôi qua, tâm trạng của anh về cuộc chiến đó ra sao?
+ ND: Lúc nãy tôi có nói, những người lính gần với cái chết cho nên không ai hơn họ về sự khát khao với sự sống. Họ nằm trong lò lửa chiến tranh nên không ai hơn họ cái khao khát hoà bình. Cho đến giờ những người lính làm văn chương, không phải là tất cả, nhưng phần lớn đều giữ được niềm khao khát từ cái lúc còn làm lính.
- PH: Bài thơ "Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc" sau một thời gian bị dừng lại cuối cùng cũng được in ra, đến với độc giả. Nhưng những dằn vặt cuả anh trong bài thơ đó cho đến nay vẫn còn chứ?
+ND: Nó vẫn còn chứ, chưa hết được nhưng có điều bây giờ nhiều người cũng nói ra được cái dằn vặt của tôi khi đóThú vị nữa là ngay trong giới cầm quyền người ta cũng cảm được những nỗi trăn trở và thật sự có một sự chuyển động. Nó chậm nhưng mà có chuyển động, tốt hơn lên.
- PH: Anh có nói người Việt ở ngoài nước cũng như trong nước khó cộng tác với nhau ngay cả trong làm ăn chứ không là trong chuyện chính trị. Và nhiều người nói cái đó là bản tính của người Việt, do đó khó hy vọng vào người Việt. Anh có tin rằng người Việt sẽ sửa được bản tính đó để dân tộc mình đi lên được không?
+ ND: Cách đây 11 năm trong thiên bút ký Đông Âu du ký, tôi cũng đã nói thẳng vấn đề nàyTừ người ở trong nước cho đến người ở ngoài nước, người Việt có rất nhiều nhược điểm mà chúng ta cần phải nhìn thẳng đó. Bây giờ nếu có người nào đó nói về những nhược điểm của người Việt thì rất dễ bị vu cho cái tội là nói xấu dân tộc mình. Tôi muốn có một cuộc "Tổng kiểm thảo toàn dân tộc" về cái hay, cái tốt, cái dở, cái xấu của chính mình và nếu không nhận thức được sự thật về mình thì đừng nói đến chuyện phát triển. Tôi muốn có một cuộc nói chuyện nói thẳng nói thật với nhau một cách sòng phẳng và đừng ai buộc tội ai hết. Tôi nghĩ cái dân chủ hiện nay cần phải có trước tiên là dân chủ nhận thức sự thật, chứ không phải là dân chủ hành động. Người Việt ta có thể nói là dân chủ về hành động có thừa. Từ cái ăn, cái nói, cái làm việc đến cái... phóng uế bậy: Có thể nói chúng ta là loại người "tự do" nhất thế giới! Những hành động dân chủ vô chính phủ chúng ta có thừa, nhưng nhận thức về dân chủ, trình độ trí tuệ về dân chủ thì lại đang còn thiếu.
- PH: Rất cảm ơn anh và một lần nữa tôi vẫn mong muốn vào lúc nào đấy thì anh sẽ quay trở lại với thơ, lại có những bài thơ mới, hay, hấp dẫn như anh vừa đọc. Vì, người ta không thể gọi anh bằng một cái danh xưng nào khác, ngoài danh xưng là nhà thơ Nguyễn Duy.
+ Nguyễn Duy: Tôi nặng duyên nợ với thơKhông làm được những bài thơ hay thì tôi ngừng, tôi không làm nữa, nhưng không có nghĩa như thế là mình đoạt tuyệt với thơ...
Berlin, tháng 7-2001







NGUYỄN DUY – HÀNH TRÌNH TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

                                                                                                                      Đỗ Ngọc Thạch

Khi đang theo học năm thứ nhất tại Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1971-1972), Nguyễn Duy đã lọt vào “Con Mắt Xanh” của nhà Phê bình Hoài Thanh và được ông chọn một chùm thơ giới thiệu trên Tuần báo Văn Nghệ. Đó chính là chùm thơ sau đó đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ 1972-1973 của Tuần báo Văn nghệ: Hơi ấm ổ rơmBầu trời vuôngTre Việt nam (sau đó in trong tập Cát trắng). Và Hoài Thanh đã nhận xét về thơ Nguyễn Duy: “…Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc. Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên. Đọc thơ Nguyễn Duy thấy anh hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Cái điều ở người khác thì có thể chỉ là chuyện thoáng qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường như đọng lại…” (Báo Văn nghệ, ngày 14-4-1972). Lời nhận xét đó của Hoài Thanh vừa như là nói ra cái đặc điểm của thơ Nguyễn Duy vừa như là một định hướng nghệ thuật cho thơ Nguyễn Duy…

Sau vài lần làm những tuyển thơ theo từng chủ đề do yêu cầu của nhiều Nhà xuất bản (Sáu & Tám- tuyển thơ Lục bát, NXB Văn học, 1994, Vợ ơi - tuyển thơ tặng vợ, NXB Phụ Nữ, 1995, Tình Tang - tuyển thơ, NXB Văn học, 1995, Thơ với tuổi thơ - tuyển thơ, NXB Kim Đồng, 2002, Thơ trữ tình - Tuyển thơ, NXB Hội Nhà văn, 2004, 36 bài thơ - Tuyển thơ, NXB Lao động, 2007), lần này là một Tuyển thơ có tính chất tổng kết đời thơ, cho nên cuốn sách có nhan đề là chính tên nhà thơNguyễn Duy (1). Cuốn sách được in rất trang trọng và cố nhiên trình bày đẹp: 420 trang in trên giấy tốt, khổ 15x23cm. Phần cuối sách, Nguyễn Duy cho in bài “Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân” của Chu Văn Sơn (2), bài viết tới 26 trang in. Qua bài viết này, bạn đọc có thể thấy được những nét chính của cuộc đời cũng như thành tựu của thơ Nguyễn Duy. Tác giả bài viết tỏ ra là một nhà phê bình thơ khá tinh tế và “có duyên”. Cũng có một số bài viết khác về thơ Nguyễn Duy từ trước và nhân tập Tuyển thơ này ra mắt (3). Mỗi người, ở một giác độ của mình, cũng mới chỉ đưa ra được những nhận định, bình giá về mặt nào đó của thơ Nguyễn Duy. Thơ Nguyễn Duy rất phong phú về nội dung, rất đa dạng về bút pháp. Song, chưa có một sự nghiên cứu toàn diện, đầy đủ nào về thơ Nguyễn Duy. Hi vọng sẽ có thêm những sự nghiên cứu Thơ Nguyễn Duy công phu và kỹ lưỡng hơn tại cuộc Tọa đàm thơ Nguyễn Duy vào buổi tối ngày 11-10-2010 tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội.Trong bài viết này, tôi sẽ cố gắng đưa ra một sự nhìn nhận bao quát về thơ Nguyễn Duy, cho đến tập Tuyển thơ này.

*

Chúng ta đang có một tập thơ Tuyển  của cả một đời thơ Nguyễn Duy  - “tập thơ của cuộc đời” - rất nặng tay, in rất đẹp. Song, sự ra đời của nó không phải dễ dàng. Trong buổi gặp gỡ giữa những người bạn thơ, người hâm mộ với Nguyễn Duy nhân tập thơ ra mắt tại báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 08/07/2010, Nguyễn Duy cho biết: “Bản thảo Thơ Nguyễn Duy tôi hoàn thành năm 1997, nhân kỷ niệm 30 năm làm thơ, 50 tuổi đời. Đây là tuyển tập những bài tôi đã in rải rác trong suốt cuộc đời thơ của mình, nhưng chẳng hiểu sao các NXB đều rất ngần ngại. Đầu tiên tôi đưa cho NXB Hội Nhà Văn, NXB đề nghị bỏ… mười bài, toàn những bài tôi viết về hồn dân, tình dân, lòng dân và lời dân, như Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, Nhìn từ xa… Tổ quốc, Đánh thức tiềm lực… trong đó có bài Đá ơi: “Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh/ Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…”. Tôi buồn quá, bèn đưa sang NXB Văn Học, các anh đề nghị bỏ… bảy bài, thế là tôi đành rút lại. Năm 2002, tôi đưa cho NXB Hải Phòng, các anh ấy chỉ đề nghị bỏ bốn câu trong Nhìn từ xa… Tổ quốc, tôi đành đồng ý, nhưng đến lúc vào nhà in rồi lại bị thu hồi. Từ 2002, tập thơ bị “om” đến bây giờ, và số phận run rủi thế nào nó lại được ra đời từ NXB Hội Nhà Văn. Đời thơ của tôi, “chữ tài liền với chữ tai một vần”.

 Gặp gỡ với bạn đọc báo Sài Gòn Tiếp Thị, nhà thơ Nguyễn Duy rất xúc động khi biết nhiều trí thức trẻ thuộc thơ mình. Tiến sĩ Trần Nam Dũng, khoa toán - tin đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM thổ lộ: “Từ hồi học sinh tôi đã mê và thuộc Sông Thao. Có hai câu tôi thích nhất là “Xin chớ hỏi tại làm sao như vậy/Tôi vốn không rành mạch bao giờ”. Sau này lớn lên, tôi thích những bài thơ mang tâm sự thời cuộc như Đánh thức tiềm lực. Xin hỏi nhà thơ: bây giờ ông đã rành mạch chưa? Ông nghĩ gì về vai trò của trí thức Việt Nam trong xây dựng và cải tạo xã hội?” Nhà thơ bật cười thú vị: “Hai câu hỏi của bạn thật khó trả lời… Ngày xưa không rành mạch, bây giờ càng không rành mạch! Đánh thức tiềm lực tôi viết trong hai năm 1980 - 1982, chứa đựng bức xúc của mình và của người dân. Trong lòng mình dằn vặt cái gì thì viết ra như thế, nên có lẽ được bạn đọc cảm thông. Thực ra mình thích viết những gì lãng mạn, còn chuyện thế sự, lý sự thì đâu có thích, nhưng có những lúc đau quá thì phải kêu lên!”.

Tiếp sau là một Đêm thơ Nguyễn Duy ở Hà Nội tại “Không gian sáng tạo Trung Nguyên” - Café vườn 36B Điện Biên Phủ, Hà Nội. Hãy nghe vài lời tâm sự của Họa sĩ Ba Tỉnh (Đinh Quang Tỉnh), một người bạn của Nguyễn Duy ở Hà Nội: “Đận ấy, vào trung tuần tháng 10 năm 2004, nhà thơ Nguyễn Duy ra Hà Nội rồi vù đi Hải Phòng mất tăm mấy ngày liền. Khi trở lại thủ đô với bộ mặt tuyệt vọng, nhợt nhạt như màu tấm vé máy bay của Vietnam Airlines mà anh mệt mỏi cầm trên tay để chuẩn bị trở vào Sài Gòn như chạy trốn hơn là từ bỏ niềm hy vọng mà anh ấp ủ cả một đời thơ.

Phút chia tay, Nguyễn Duy tặng tôi bản thảo tập thơ này (bị ách lại tại NXB Hải Phòng - Đ.N.T) như là sẻ chia một nỗi buồn - một nỗi đau nhân thế và cũng là một nỗi đau không phải của riêng ai…“Giấc mơ không đến hai lần” nên từ đấy Nguyễn Duy dường như không làm thơ nữa mà chuyên tâm vào một thú chơi mới, lại kiếm được đồng tiền nuôi con: “Lịch thơ Nguyễn Duy” như một đóa hoa Xuân mới lạ làm đẹp cho đời mỗi thi Tết đến, Xuân về.

Thoắt đã 7 năm, tập bản thảo Nguyễn Duy tặng tôi vẫn nằm im trong tủ sách như một số phận đã an bài. Nhưng, “Thiên hữu mục” - Ông trời có mắt. Số phận run rủi thế nào mà tập thơ bị “om” suốt ngần ấy năm bỗng lại được ra đời ở ngay NXB Hội Nhà văn Việt Nam vào đúng năm 2010 - Năm có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước. Tôi cầm đầm tay tập thơ rất trang nhã, rất là thơ và cũng rất Nguyễn Duy. Cũng ngần ấy con chữ đề tặng với chữ ký điệu đà của Nguyễn Duy, mà sao lần này đối với tôi nó lại tưng bừng và ngọt ngào đến thế.

NXB Hội Nhà văn, Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam và tác giả cho ra mắt tập thơ “Nguyễn Duy - Thơ”, đây là tập thơ dầy dặn nhất của đời thơ Nguyễn Duy từ trước đến nay, được xem như tuyển tập thơ Nguyễn Duy cũng gần như chính xác. Một hành trình thơ của hơn 40 năm vất vả, trong đó có nhiều năm thấp thỏm mong chờ đứa con tinh thần ra đời nguyên vẹn hình hài, chứa đựng tâm tình với những lời thơ chất ngất niềm đau thế sự nhân tình…”.

 *

Tập thơ Tuyển này của Nguyễn Duy được cấu tứ  từ bốn phần:

1.      Đường làng (từ trang 9 đén 56)

2.      Đường nước (từ trang 59 đến 236)

3.      Đường xa (từ trang 239 đến 308)

4.      Đường về (từ trang 311 đến 393)

Nhìn vào tên gọi của từng phần, kết hợp với cách ghi tên sách ta có thể hình dung ra tác giả của cuốn sách muốn thể hiện cuộc hành trình vào địa hạt Thi ca của Nguyễn Duy. Đó là cuộc hành trình từ truyền thống đến hiện đại của một nhà thơ đương đại là Nguyễn Duy: từ con Đường Làng bé nhỏ, anh đã tới con Đường lớn của đất nước để làm việc nước khi vận nước kêu gọi; và trên con đường Thiên lý của Lịch sử, của Thời đại anh phải làm những cuộc chinh phục Đường xa để minh định chân lý, kiếm tìm những giá trị mới mang tầm nhân loại; đoạn cuối của cuộc hành trình vạn dặm đó là anh tìm Đường về cội nguồn, hoàn thiện nhận thức về cuộc đời…

 Vì thế, tôi dùng từ “Cấu tứ” (mà không phải là “Cấu tạo”) là muốn nói tới ý tưởng này của tác giả: Toàn bộ tập thơ là một Bài Thơ Lớn - Bài thơ cuộc đời - mà trong Bài Thơ Lớn đó, Nguyễn Duy đã hóa thân trọn vẹn vào Thơ - tức Nguyễn Duy là Nhân vật Trữ tình của Bài Thơ Lớn này. (Nguyễn Duy có điểm rất gần với nhà thơ người xứ Daghestan Rasun Gamzatop là rất chú trọng đặt tên cho những “đứa con tinh thần” của mình, tức tên các bài thơ. Rasun Gamzatop có nói đại ý rằng, tên gọi một tác phẩm giống như cái mũ người ta thường đội đầu. Nhìn vào cái mũ đội đầu, ta có thể biết tính cách người đội mũ!).

1. Ra đi từ làng quê nghèo

  
Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo

quen cái thói hay nói về gian khổ

dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm

Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất

bãi tha ma không một cái mả xây

mùa gặt hái rơm nhiều, thóc ít

lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày

thuở tới trường cũng đầu trần chân đất

chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai

Lại cũng là nhà thơ Rasun Gamzatop đã nói một câu rất hay: “Chúng ta không thể lựa chọn Quê hương, nhưng Quê hương thì ngay từ đầu đã lựa chọn chúng ta!”. Dường như Nguyễn Duy chấp nhận rất thành tâm sự lựa chọn của Quê hương, dù đó là một Làng quê nghèo. Những bài thơ làm lay động lòng người mạnh nhất là những bài thơ Nguyễn Duy viết về Quê hương với người bà, người cha, người mẹ…Thật khó mà nói những bài thơ ấy như Đò Lèn, Cầu Bố, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…thì bài thơ nào hay nhất? Tốt nhất là hãy đọc lại một bài về cha, một bài về mẹ - đấng sinh thành của ta:



Cầu Bố

1.      Ai qua Thanh Hóa về Quảng Xá
men rượu là hương vị của làng tôi
nhắc cầu Bố chắc nhiều người còn nhớ
đình nhà Lê rêu phủ đã bao đời

2.      Nhà tôi đó không cổng và không cửa
ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào
cha tôi chạm rất nhiều cửa sổ
gió nồm nam cứ thoải mái ra vào

3.      Đường làng tôi tiếng xe thồ lọc xọc
chiếc xe thồ từng đẩy tới Điện Biên
ngược dòng sông Mạ lên Tây Bắc
ai xuôi về cũng sốt kinh niên

4.      Những năm bom đạn như gieo mạ
lại chiếc xe thồ đi về nam
cha tôi qua cầu Bùng cầu Ghép
tôi nhìn theo chớp lửa nhập nhoằng

5.      Cỏ đã mọc ai còn thấy nữa
vết xe thồ vẹt đỉnh Trường Sơn
ai thấy nữa ông già đầu bạc xóa
đẩy xe thồ ngang dọc lũng Tà Cơn

6.      Cha tôi đó, dân làng tôi vậy đó
xả hết mình khi nước gặp tai ương
rồi thanh thản trở về với ruộng
sống lặng yên như cây cỏ trong vườn

7.      Ngày họp mặt cha già như trẻ lại
bếp rượu giữa nhà và bè bạn vây quanh
con đường chiến tranh còn ngoằn ngoèo trong ruột
càng thêm say hương rượu nếp thanh bình.

(Cầu Bố - Quê Nội, mùa Thu, 1983)

 Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

1.      Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn 
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

2.      Mẹ ta không có yếm đào 
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

3.      Cái cò... sung chát đào chua ... 
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

4.      Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

5.      Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm... 
bờ ao đom đóm chập chờn 
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

6.      Mẹ ru cái lẽ ở đời 
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con 
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

7.        Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa 
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa 
miệng nhai cơm búm lưỡi lừa cá xương

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Sài Gòn, 1986)

2. Vận nước hưng vong thất phu hữu trách

  
Phàm đã là “Sĩ phu Bắc Hà” không thể không biết tới câu “Vận nước hưng vong thất phu hữu trách”Song thực hiện câu nói đó như thế nào thì không phải ai cũng làm tốt. Phải nói ngay rằng Nguyễn Duy đã làm rất tốt: Khi có chiến sự, anh đã có mặt ở những nơi “sục sôi bom lửa chiến trường” (như  Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972, chiến tranh biên giới phía Bắc thì anh tới tận những điểm chốt ác liệt). Phần thơ chiến trận này của Nguyễn Duy cũng khá đặc sắc và có phong cách riêng: không ùng oàng bom đạn hoặc xếp câu chữ thành những Sư đoàn quân mà chỉ vài câu thơ thánh thót như giọt nước nhểu trong hang động nhưng lắng đọng vào tận tầng sâu của tâm tư người lính nơi cái chết luôn rình rập:

 "Thắng rồi - trận đánh thọc sâu
lại về với mái tăng - bầu trời vuông
...
Vuông vuông chỉ một chút này
mà che tròn vẹn ngàn ngày quân đi"
                        (Bầu trời vuông - Quảng Trị 1971)

Những vấn đề sau chiến tranh (còn gọi là “hậu chiến”) bao giờ cũng rất gay cấn và đòi hỏi bản lĩnh Thi nhân còn gắt gao hơn cả vấn đề bom đạn trong chiến tranh. Nguyễn Duy đã không “thoái ẩn” hoặc “ngậm miệng ăn tiền” như không ít những kẻ cơ hội mà anh đã dũng cảm nhập cuộc. Chùm ba bài "Nhìn từ xa... Tổ quốc", "Đánh thức tiềm lực", "Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ"  đã khiến tầm cỡ Thi nhân của Nguyễn Duy lớn vụt lên và cũng khiến anh gặp “rắc rối” không ít! Vấn đề này thực ra chưa có sự phán định trên diễn đàn văn học công khai mà chỉ là “chuyện nội bộ”, “chuyện tế nhị”. Chúng ta phải chờ hậu thế phán xét vậy! Nhưng dù sao, tôi thấy cũng cần phải nói thêm rằng, với chùm ba bài "Nhìn từ xa... Tổ quốc", "Đánh thức tiềm lực", "Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ" Nguyễn Duyđã trở thành người ca sĩ quả cảm của thời đại mình! (M. Gorki có nói một câu nói nổi tiếng: Nhà thơ không thể chỉ là vú em của tâm hồn mình mà phải là ca sĩ của thời đại mình!). Hình ảnh này chính là chân dung rất cao đẹp của Thi sĩ thời đại ngày nay:
Tôi muốn được làm tiếng hát của em

tiếng trong sáng của nắng và gió

tiếng chát chúa của máy và búa

tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai

tiếng trần trụi của lưỡi cuốc

lang thang

khắp đất nước

hát bài hát

Đánh thức tiềm lực(4)


3. Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ… 


Nếu như ở trên đã nói chùm ba bài "Nhìn từ xa... Tổ quốc", "Đánh thức tiềm lực", "Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ" đã khiến tầm cỡ Thi nhân của Nguyễn Duy vụt lớn lên thì với Phần thứ ba “Đường xa” đã nâng Nguyễn Duy lên tầm nhân loại. Hai bài mở đầu (Đá ơi) và kết thúc Phần Đường xa (Nhìn từ xa…Tổ quốc) đều “gặp rắc rối” khi đem in chứ nếu không thì tập thơ này đã có năm sinh là 2004 chứ không phải là 2010 như đã nói trên! Nhà thơ gặp rắc rối vì đã “nói chuyện chính trị”! Vì thế, tôi chỉ xin dẫn lại vài câu “lý sự” của hai bài thơ trên mà chưa bình luận gì:

“…Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh

Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…”

(Đá ơi…- Campuchia, 29-8-1989)

“…Dù có sao

vẫn Tổ quốc trong lòng

mạch tâm linh trong sạch vô ngần

còn thơ còn dân

ta là dân – vậy thì ta tồn tại”

(Nhìn từ xa…Tổ quốc – Matxcơva, 5-1988 - TP.Hồ Chí Minh, 19-8-1988)



4. Đường về của thơ Nguyễn Duy

Trong suốt hành trình thơ của mình, cho dù Nguyễn Duy đã tìm tòi, sáng tạo đủ kiểu theo những xu hướng “mô- đec”, tân kỳ nhất thì những câu thơ đạt hiệu quả thẩm mỹ mạnh nhất, “Nguyễn Duy nhất” vẫn lại chính là những câu thơ dân dã nhất, có nhiều hương đồng gió nội nhất…nhưng với một tầm vóc cao rộng hơn :

“…Mai rồi lại hát à ơ 
Con cò lặn lội bên bờ đại dương…” 

 (Lời ru con cò biển – Mũi Cà Mau, 1977)

Tháng 8 - 1994, Nguyễn Duy cho in tập thơ chỉ có một chữ VỀ và đến tháng 10 -1994 lại in tiếp tập SÁU VÀ TÁM (tuyển 99 bài thơ viết theo thể lục bát từ trước đến 1994) . Tập thơ VỀ (tập hợp những bài viết từ l990 đến 1994) , nhà thơ Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ quan điểm mỹ học “Về với cội nguồn “ của thơ Nguyễn Duy và đó cũng là sự khẳng định rõ phong cách thơ Nguyễn Duy :

Rơm rạ ơi ta trở về đây 
Xin cúi lạy vong linh làng mạc
Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc
Ông và cha man mác kiếp trâu cày

Rơm rạ ơi ta trở về đây
Ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng
Cỏ áy vàng bãi tha ma vắng
Lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà 

  ( Về đồng – Quê nhà mùa hạ, 1992 )

Những câu thơ nặng trĩu hồn quê, lay động tận trong sâu thẳm tâm linh và như từ lúc nào đưa người đọc trở về với bản ngã, với những gì con người nhất. Còn tập SÁU VÀ TÁM, theo như Nguyễn Duy cho biết thì đó là sự liều lĩnh vì đây là thể thơ người ta xếp xó từ lâu ! Nhưng, sự tập hợp 99 bài thơ như là sự nhìn lại mình đó của Nguyễn Duy đã khiến cho người đọc ngạc nhiên về sự tài hoa của anh với những câu thơ lục bát biến hóa khôn lường. Không ít người đã phải thốt lên : “ Thật dân gian mà cũng thật hiện đại !” …Có thể nói, Nguyễn Duy đã khai thác được rất nhiều điều bí ẩn của thơ lục bát dân gian và đã một lần nữa khẳng định sức sống muôn đời của thể thơ lục bát !

Tôi nhớ mãi ngày 4 -11 -1994 , nhà Văn hóa Thanh Niên TP.HCM đã tổ chức đêm “Thơ Nguyễn Duy” . Công chúng văn học đã đến với thơ Nguyễn Duy thật nhiệt thành . Những bó hoa, những tràng pháo tay không ngớt trong đêm thơ chính là những nhà phê bình công minh nhất. Lúc đó tôi đang làm cho báo Lao Động-Xã Hội và đã làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng Nguyễn Duy. Cuộc phỏng vấn đó như sau :

- Hỏi : Tại sao một con người có máu lang bạt kỳ hồ rất mạnh như anh lại ra hẳn một tập thơ VỀ ?

- Trả lời : Đường “về” trên đồ thị thời gian của thơ tôi như một vòng luân hồi . Tôi đã thử theo nhiều nẻo đường thơ mong đi tìm cho mình một giọng điệu lạ, lòng vòng mãi, lại lần mò về chính cái điểm khởi đầu cuộc hành trình của mình, đó là thơ sáu tám. Kế đó là đường về trên đồ thị không gian thơ tôi, lang bạt hết miền đất này sang vùng trời nọ, rồi lại trở về với vũ trụ chính mình nơi có tất cả những gì gần gũi, thân thuộc, máu thịt nhất của mình. Thêm nữa là sự trở về trong tâm linh, làm thức dậy ký ức cùng những giá trị tinh thần đang rũ rượi ngủ mê hoặc đang chết dần trong lòng mình. Thêm nữa là… về già, về vườn, về nhà với vợ…Nhiều thứ về lắm !

- Hỏi : Còn tập thơ SÁU VÀ TÁM, sao lại chọn 99 bài? Có thể hơn nhiều chứ?

- Trả lời: Tất nhiên là có thể tuyển chọn nhiều hơn nữa. Nhưng, tôi tự thấy, một tập thơ toàn thơ sáu tám, đọc dễ chán, không nên tham. Một trăm bài đã là nhiều rồi. Bớt một bài cho nó ít đi tí tẹo. Bớt nữa thì tiếc.

- Hỏi: Sau hai tập thơ cùng phát hành này, anh sắp cho in gì nữa không?

- Trả lời: Chưa có thơ để in thêm. Thơ khó lắm, không biết tôi còn làm thơ nổi không. Có chăng, sẽ là tập bút ký, chọn lại các bài báo từ thời “Đông Âu du ký” tới nay.

- Hỏi: Nghe nói, anh định làm triển lãm “Thơ Nguyễn Duy”?

- Trả lời: Tôi đang làm. Chép lại một số bài thơ ngắn, chủ yếu vẫn là thơ sáu tám, lên giấy dó, giấy xuyến chỉ, giấy thường, lụa tơ tằm và bao tải, chiếu cói. Phóng lớn một số bức ảnh nghệ thuật của tôi. Một số tranh của các họa sĩ bạn bè minh họa thơ tôi hoặc gần gũi thi tứ các bài thơ của tôi. Sẽ trưng bày vào cuối năm nay tại Thành phố Hồ Chí Minh và đầu năm sau tại Hà Nội, Thanh Hóa, Huế.

- Hỏi: Đang có cuộc tranh luận về thơ khá sôi nổi. Anh có thể cho biết một số ý kiến về thơ hiện nay và về cuộc tranh luận?

-Trả lời: Không dám đâu. Tôi có biết làm thơ, nhưng tự biết không dám bàn về thơ. Có những câu thơ, tôi làm ra mà còn chưa hiểu hết những ý nghĩa khách quan của nó. Huống chi, thơ của người khác. Xin nhường việc tranh luận thơ cho những người am hiểu thơ hơn tôi.

Như trên ta đã thấy, cái sự VỀ của Nguyễn Duy có cái đích rất cụ thể là về với vợ! Vì thế, liền sau hai tập VỀ và SÁU VÀ TÁM là tập thơ VỢ ƠI… Tập thơ VỢ ƠI…(tập hợp 18 bài viết từ 1971 đến 1994 do NXB Phụ nữ xuất bản cuối năm1995) là sự về với vợ trăm phần trăm của thơ Nguyễn Duy. Những bài thơ này đã in rải rác trong các tập thơ trước đó của Nguyễn Duy, lúc đó, đặt bên cạnh những bài thơ có tính thời cuộc bức xúc, nóng bỏng khác, những bài thơ về với vợ có vị trí khiêm nhường, tĩnh lặng, giản dị… Nhưng khi được tập hợp lại thành một chủ đề về với vợ thì tập thơ “VỢ ƠI…” khiến người đọc giật mình về độ lớn cũng như chiều sâu của hình tượng văn học NGƯỜI VỢ trong thơ Nguyễn Duy. Xin dẫn lại nguyên văn bài thơ “Vợ ơi…” và tôi tin rằng bất kỳ bậc mày râu nào cũng sẽ thấy mình bé nhỏ trước người vợ bình dị mà vô cùng lớn lao khi trở về với vợ :

Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy
Ta chạy rông như gì nhỉ - quên đời
Lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc
Đói lả mò về
               cơm  đâu
                                vợ ơi!...


**

Và tao tác bạn bè cơn hoạn nạn
Đòn du côn tóe máu tâm hồn 

Và tung tóe cả bướm vàng bướm trắng
Này giọt cay giọt đắng giọt buồn nôn

Móc họng mửa ra cầu vồng bảy sắc
Vợ dìu ta
                từng bậc 
                                thang mòn…

**

Đêm huyền ảo một kinh kỳ se lạnh
Một mình ta cô quạnh giữa muôn người
Mặt sông lạ gợn nếp nhăn đuôi mắt
Bủn rủn buồn
                ta thầm kêu
                                vợ ơi… 

        (Praha,7-1990 – Hà Nội,12-1990)

“Về với vợ” là một nẻo về có vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm linh thơ Nguyễn Duy được viết bằng những câu thơ ấn tượng mạnh. Nếu như ở tập thơ VỀ vừa nói ở trên con có gì đó trừu tượng, mông lung, huyền ảo thì ở đây vợ là Cõi về cụ thể:

Mải nưng nứng mộng siêu nhân
Lên cơn giá vũ đằng vân giang hồ

Cuộc chơi hành hiệp lơ ngơ
Vắt mình ra mấy giọt thơ nhạt nhèo

Dần mòn con chữ tong teo
Liêu xiêu lều quán lèo tèo ven đê

Cánh buồm mây tướp chiều quê
Ruỗng tênh hênh bịch rơi về cõi em

Cõi về - Đầu năm con gà, 1993)

Ta mơ màng ta uốn éo ta lả lơi
Để mặc kệ mái nhà xưa dột nát
Mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác
Mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao

Ta rất gần bể rộng với trời cao
Để xa cách những gì thân thuộc nhất
Nồi gạo hết lúc nào ta chả biết
Thăm thẳm nỗi lo trong mắt vợ u sầu

Viên thuốc nào dành để lúc con đau
Vợ nằm đó xoay xở mần răng nhỉ
Cơn hoạn nạn bỗng làm ta tĩnh trí
Ngọn gió tha hương lạnh toát gia gà…

Bán vàng - Tháng Tám năm Canh Thân, 1980)

Trong cuộc đời Nguyễn Duy, cái nạn lớn nhất là vợ ốm và có lẽ qua cái đại hạn này, nhà thơ mới hiểu hết vị trí cũng như giá trị của người vợ trong cuộc đời thi nhân:

Vừa một xuân lại một xuân
Vợ ơi đại hạn đã gần một năm
Một nhà là sáu mồm ăn
Một thi nhân hóa phăm phăm ngựa thồ

Cái lưng em sụm bất ngờ
Tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời
Thông thường thượng giới rong chơi
Trần gian choang choác sự đời tùy em

Nghìn tay nghìn việc không tên
Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng
Thình lình em ngã bệnh ngang
Phang anh xát bát xang bang sao đành

Cha con chúa Chổm loanh quanh
Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên việc địa việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn…

Vợ ốm - Tết con Tuất, 1994)

Nguyễn Duy thường có những câu thơ mạnh cả về ngữ nghĩa và âm thanh và thường là thiên về cách nói cay độc, nhiều khi thái quá. Nhưng khi về với vợ, nhũng câu thơ của anh như được chuốt ra từ bàn tay diệu kỳ của người vợ thành những vần thơ lung linh - đó là những vần thơ “thi trung hữu họa” về chân dung người vợ :

Mùa xuân trở dạ dịu dàng
Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay

Nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
Dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
Em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng

Má hồng về xứ hồng hoang
Tóc rơi mỗi sợi nghe ngàn lau rơi

Dịu dàng vang tiếng mắt cười
Bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm

Bỏ qua tội tháng nợ năm
Tự nhiên giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng…

Dịu và nhẹ - Cuối năm con ngựa, 1990)

Mỗi độ xuân về Tết đến Nguyễn Duy đều có thơ cho vợ và phải nói đó là nhũng cảm hứng thi ca đẹp nhất của hồn thơ Nguyễn Duy và cũng là những bài thơ được đông đảo bạn đọc đồng cảm nhất, bởi khi nhà thơ về với vợ là về với tình yêu vợ chồng bình dị mà vô hạn - đó mới chính là THƠ TÌNH trọn vẹn nhất, cao đẹp nhất:

ứa nước mắt mà yêu nhau trọn vẹn 
khấp khểnh đường dài thập thễnh bon chen
lắm lúc chữ nghĩa vô nghĩa tuốt
bàn tay bé con phủi bụi ưu phiền 

trời cho sống ta cũng già em ạ
con thương cha không bằng bà thương ông
tình như rượu chôn lâu đằm lịm lại
cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng…

*

Trong bài của Chu Văn Sơn có viết rằng: Thơ yêu của Nguyễn Duy thuộc tạng nào đây? Thì còn tạng nào ngoài tạng... tình tang. "Ai sinh ra thói tình tang / để ai hóa gió lang bang quê nhà. Ai làm ra lúng liếng sông / để đưa tu hú sổ chồng sang ngang". Theo tôi ở đây cần trao đổi hai ý: 1/ Thơ Yêu (Thơ Tình) của Nguyễn Duy chính là thơ tặng vợ - Thơ tặng vợ của Nguyễn Duy có thể nói là “Siêu thơ tình”, độc nhất vô nhị! Điều đáng chú ý ở đây là: Nguyễn Duy là một trong số không nhiều lắm nhà thơ rất chung tình với vợ, không có chuyện “đa tình” như phần lớn các nhà thơ khác! 2/ Phần thơ gọi là “Tình tang” của Nguyễn Duy thực ra chỉ là sự “thư giãn”, “sả sú-pap” mà thôi. Những câu thơ của Nguyễn Duy mà Chu Tiến sĩ gọi là “Yêu bằng mắt” như:

1.      "Người con gái chợt qua đường

2.      áo em mong mỏng màn sương núi đồi

3.      Chợt rơi lại một nụ cười

4.      và... sương rười rượi một trời phía sau

5.      Đem nhan sắc tặng cho nhau

6.      em giăng cái đẹp ngang cầu ban mai

7.      chả riêng ta... chả riêng ai

8.      để heo hút gió thở dài trên cây".


Gợi cho tôi nhớ đến Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến: ông rất chuẩn mực mà cũng cân có lúc “thư giãn” bằng cách nhìn ngắm, thưởng thức vẻ đẹp nữ tính như hai bài thơ sau:

Gái rửa bờ sông



Thu vén giang sơn một cặp tròn,
Nghìn thu sương tuyết vẫn không mòn.
Biết chăng chỉ có ông Hà bá,
Mỉm mép cười thầm với nước non.
  
Đề Tranh Tố Nữ

Bao tuổi xuân xanh hỡi chị mình?
Xinh sao xinh khéo thực là xinh!
Hoa thơm chẳng muộn hương mà ngát,
Tuyết sạch không nề nước mới thanh.
Ngoài mặt đã đành son với phấn,
Trong lòng nào biết đỏ hay xanh?
Người xinh, cái bóng tình tinh cũng...
Mỗi bút một thêm một điểm tình!


Sài Gòn, tháng 10-2010

Đỗ Ngọc Thạch

----

Chú thích:

(1)Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1947, tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam. Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979). Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam.

Năm 1973, Nguyễn Duy đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơmBầu trời vuôngTre Việt nam (trong tập Cát trắng). Năm 1997 ông tuyên bố "gác bút" để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải. Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên giấy dó. Năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó (gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc) khổ 81cm x 111 cm có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông.

Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.

Tác phẩm: Thơ: Cát trắng (1973); Ánh trăng (1978); Đãi cát tìm vàng (1987); Mẹ và em (1987); Đường xa (1989); Quà tặng (1990); Về (1994); Bụi (1997);Thơ Nguyễn Duy (2010, tuyển tập); Thể loại khác: Em Sóng (kịch thơ - (1983); Khoảng cách (tiểu thuyết - 1986); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký - 1986)

(2) Chu Văn Sơn: sinh năm 1962, Quê Thanh Hóa, Tiến sĩ Ngữ Văn, Đại Học Sư Phạm Hà Nội.
Bài đã đăng trên Tạp chí Nhà văn, số 2-2003, nhân Ngày Thơ Việt Nam lần thứ nhất. Bài viết này cũng đã đăng tải hai kỳ trên  eVan - Nguyen Duy thi si thao dan [1/2].

 (3) Xin xem thêm một số bài viết sau:

Nguyễn Duy thi chỉ  - Mai Linh (Vanvn.net, 24-7-2010)



(4) Xin xem nguyên văn bài ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC

 (Tiễn đưa anh S.D (*) đi làm kinh tế)



Hãy thức dậy đất đai

Cho áo em tôi không còn vá vai

Cho phần gạo mỗi nhà không còn

thay bằng ngô, khoai, sắn...

Xin bắt đầu từ cơm no áo ấm

Rồi đi xa hơn - đẹp và giàu,

và sung sướng hơn.



Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non

châu bắu vô biên dưới thềm lục địa

rừng đại ngàn bạc vàng là thế

phù sa muôn đời như sữa mẹ

sông giầu đằng sông, bể giầu đằng bể

còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào

lòng đất rất giầu, mà mặt đất cứ nghèo sao?

Lúc này ta làm thơ cho nhau

đưa đẩy làm chi những lời ngọt lạt

ta ca hát quá nhiều về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên...

                       

Tôi lớn lên: bên bờ bãi sông Hồng

trong mầu mỡ phù xa mắu loãng

giặc gĩa từ con châu chấu, con cào cào

mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào

trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc

giọt mồ hôi nào có gì to tát

bao nhiêu đời mặn chát các giòng sông

bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất, mất đồng

thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bẩy nổi

khúc dân ca cũng bèo dạt, mây trôi

hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai

đói thâm niên

đói truyền đời

điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói...

                       

Tôi đã qua những chặng đường

miền Trung bỏng rát

và dai dẳng

một bên là Trường - sơn - cây - xanh

bên còn lại: Trường - sơn - cát - trắng

đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng,

cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi

ngọn cỏ nhọn thành gai mà trốn không khỏi úa

đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ

cơn gío Lào rát ruột, lắm em ơi  !

Hạt giống ở đây chết đi, sống lại

hạt gạo kết tinh như hạt muối

cây luá đứng lên cũng đạp đất đội trời,

                       

Tôi về quê em châu thổ sáng ngời

sông Cửu Long giãn mình ra biển

đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển

cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi

Đất tận sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt

lòng còn chát chua nào mặn, nào phèn

mà sung sức và ba cường tráng thế

man mác âu sầu trong câu hát ru em



Đã đi qua những huyền thoại cũ mèm

những đồng lúa không trồng mà gặt

những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt

những gểnh cẳng, vuốt râu làm chơi ăn thật

miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi!



Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi

đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện

con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng

thóc bỏ mục ngoài mưa,

thiếu xăng dầu vận chuyển

phà Cần Thơ lê lết người ăn xin

cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ

quán rượu lai rai - nơi thừa thiếu trốn tìm

                       

Này, đất nước của ba miền cầy ruộng

chưa đủ no cho đều khắp ba miền

ta ca hát quá nhiều về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên.

                       

Lúc này tôi làm thơ tặng em

em có nghĩ tôi là đồ vô dụng

vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì?

và trả lại được gì cho cuộc sống?

em có nghĩ tôi là con chích chòe

ăn và gại mỏ



Em có nghĩ

tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả?

Em có nghĩ tôi là kẻ thợ chữ

đục đẽo nát cả giấy

múa võ, bán cao trên trang viết mong manh?

tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh?...

tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc?

Em có nghĩ...

mà thôi!

                       

Xin em nhìn kìa - người cuốc đất

(tôi cũng từng chai tay cuốc đất)

cái cuốc theo ta đời này, đời khác

lưỡi cuốc nhỏ nhoi liếm sạch cánh đồng rồi

dướn mình cao

chĩa cuốc lên trời

bổ xuống đánh phập

đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất!



Xin em nhìn - người gánh phân gánh thóc

(tôi cũng từng gánh phân gánh thóc)

kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng

đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh

Những cái đẹp thế kia...

em có chạnh lòng không?

cái đẹp gợi về thuở ngày xửa ngày xưa

nhịp theo tiết tấu chậm buồn

cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa !

Em có chạnh lòng chăng?

giữa thành phố huy hoàng

bạt ngàn quán nhậu

bỗng hiện lù lù chiếc xe hơi chạy than

vệt than rơi tóe lửa mặt đường

Em có chạnh lòng chăng ?

xích lô đạp càng ngày càng nghênh ngang

Xích lô máy và xe lam chạy dầu

vừa nã đại liên vừa

phun khói độc

người đi bộ vừa đi vừa nghĩ về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên...

                         

Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo

quen cái thói hay nói về gian khổ

dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm

Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất

bãi tha ma không một cái mả xây

mùa gặt hái rơm nhiều, thóc ít

lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày

thuở tới trường cũng đầu trần chân đất

chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai

thầy giáo giảng rằng

nước ta giàu lắm !....

lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài



Lúc này

tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa

ta biết buồn để biết chuyện lạc quan

và, để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con

(dù sau này dầu mỏ có phun lên)

quặng bô xit cao nguyên

đã thành nồi, thành xoong,

thành tàu bay hay tầu vũ trụ...

dù sau này có như thế... như thế...đi nữa

thì chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại rằng:

đừng quên đất nước mình nghèo!



Lúc này

tôi và em chẳng còn là lũ trẻ con nữa

tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh

sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng

trước mặt ta vẫn còn đường ghập ghềnh

vẫn trắng trong tấm lòng trung thực

dù có thể lỗi lầm - làm thế nào

mà biết được

dù có sao thì vẫn phải chân thành



Xưa mẹ ru ta ngủ yên lành

để khôn lớn ta hát bài đánh thức

có lẽ nào người lớn cứ rủ nhau

ru tiềm lực ngũ vùi trong thớ thịt.

Tiềm lực còn ngủ yên

trong qủa tim mắc bệnh đập cầm chừng

Tiềm lực còn ngủ yên

trong bộ óc mang khối u tự mãn



Tiềm lực còn ngủ yên

trong con mắt lờ đờ thủy tinh thể

Tiềm lực còn ngủ yên

rong lỗ tai viêm chai màng nhĩ

Tiềm lực còn ngủ yên

trong ống mũi khò khè

không nhận biết mùi thơm

Tiềm lực còn ngủ yên

rong lớp da biếng lười cảm giác



năng động lên nào

từ mỗi tế bào từ mỗi giác quan

cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi

Cần lưu ý

lời nói thật thà có thể bị buộc tội

lời nịnh hót dối lừa

có thể được tuyên dương

đạo đức gỉa có thể thành dịch tả

lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường

Cần lưu ý

có cái miệng làm chức năng cái bẫy

sau nụ cười lởm chởm răng cưa

có cái môi mỏng hơn lá mía

hôn má bên này, bật mắu má bên kia

có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa

khái niệm bắn ra không biết lối thu về



Cần lưu ý

có lắm sự nhân danh lạ lắm

mượn áo thánh thần che lốt ma ranh

nhân danh thiện tâm làm điều ác đức

rao vị nhân sinh để bán món vị mình

Cần lưu ý

có lắm nghề lạ lắm

nghể mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau

nghề chửi đổng,

nghề ngồi lê,

nghề vu cáo

nghề ăn cắp lòng tin và

chẹn họng đồng bào

có cả nghề siêu nghề,

là nghề không làm gì cả

thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề...



xxx



Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy

phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ yên

                       

xxx



Tôi muốn được làm tiếng hát của em

tiếng trong sáng của nắng và gió

tiếng chát chúa của máy và búa

tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai

tiếng trần trụi của lưỡi cuốc

lang thang

khắp đất nước

hát bài hát

ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC...



Thành phố Hồ Chí Minh 1980 - 1982

Nguyễn Duy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét